Đặt vấn đề Trong xu thế phát triển kinh tế xã hội, với tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng và sự phát triển mạnh mẽ của các nghành công nghiệp, dịch vụ, du lịch….kéo theo mức sống của người dân ngày càng cao đã làm nảy sinh nhiều vấn đề mới, nan giải trong công tác bảo vệ môi trường và sức khỏe của cộng đồng dân cư. Lượng chất thải phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt của người dân ngày một nhiều hơn, đa dạng hơn về thành phần và độc hại hơn về tính chất. Bên cạnh những mặt tích cực do phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân thì việc sử dụng quá mức tài nguyên thiên nhiên, xả thải các chất độc hại vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường đã dẫn đến ô nhiễm môi trường. Ô nhiễm môi trường do nhiều nguyên nhân chủ yếu vẫn do họat động sống của con người.
Chất thải rắn sinh hoạt là một phần của cuộc sống, phát sinh trong quá trình ăn, ở, tiêu dùng của con người. Mức sống của người dân càng cao thì việc tiêu dùng các sản phẩm của xã hội càng cao, điều đó đồng nghĩa với việc gia tăng chất thải sinh hoạt. Mặt khác, tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt cho đến nay mới chỉ đạt 60 – 80%, phần còn lại được thải tự do vào môi trường. Ở nhiều nơi trên đất nước ta chất thải sinh hoạt là nguyên nhân chính phá vỡ cân bằng sinh thái, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất, ô nhiễm không khí, gây bệnh cho con người, cây trồng, vật nuôi, cảnh quan văn hóa đô thị và nông thôn.
Cách quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại các thành phố, thị xã ở nước ta hiện nay đều chưa đáp ứng được các yêu cầu về vệ sinh và bảo vệ môi trường (BVMT ). Không có những bước đi thích hợp, những khuyết sách đúng đắn và những giải pháp đồng bộ, khoa học để quản lý chất thải rắn trong 2 quy hoạch, xây dựng và quản lý các đô thị sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường, làm suy giảm chất lượng môi trường, khéo theo những mối nguy hại về sức khỏe cộng đồng, hạn chế sự phát triển của xã hội. Song song với sự không ngừng của phát triển kinh tế, ngày nay vấn đề môi trường đang trở thành mối quan tâm của toàn nhân loại. Hoạt động bảo vệ môi trường trong thời đại chúng ta là một trong những hoạt động quan trọng xã hội của loài người, nhằm duy trì hợp lý các dạng tài nguyên hướng tới sự phát triển bề vững.
Tuy nhiên trong thực tế hoạt động bảo vệ môi trường, sự quản lý của nhà nước về môi trường vẫn chưa được quan tâm đúng mực. An Tảo là một phường của thành phố Hưng yên, tỉnh Hưng Yên, trong những năm gần đây phường có những bước tiến đáng kể về kinh tế và xã hội, đời sống của nhân dân được cải thiện. Cùng với nó vấn đề về môi trường ngày càng trở nên búc xúc, rác thải ngày càng nhiều, ô nhiễm ngày càng gia tăng, vấn đề quản lý môi trường ở các cấp các nghành vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém và bất cập. Bên cạnh đó các văn bản pháp luật chưa đồng nhất, chưa đi sâu vào thực tiễn cuộc sống.
Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý môi trường chưa được đào tạo một cách toàn diện……Xuất phát từ thực tế trên được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường , Ban chủ nhiệm khoa môi trường, tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề: “ Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Phường An Tảo, Thành Phố Hưng Yên và đề xuất phương hướng quản lý” 1. Mục tiêu của đề tài - Đưa ra cái nhìn tổng quát và phản ánh chính xác các hoạt động thu gom, phân loại, tái chế, và các phương pháp xử lý CTRSH trên địa bàn phường An Tảo - Đưa ra các số liệu đánh giá về khối lượng thành phần và mức độ ảnh hưởng của CTRSH trên địa bàn phường An Tảo 3 - Nâng cao nhận thức của người dân về công tác quản lý CTRSH trên địa bàn phường An Tảo - Tìm hiểu các văn bản pháp quy có liên quan đến công tác QLCTRSH tại phường An Tảo - Đề ra những giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế nhằm nâng cao hiệu quả QLCTRSH tại phường An Tảo 1. Yêu cầu của đề tài - Các số liệu, thông tin đưa ra phải đảm bảo độ tin cậy, trung thực, khách quan, chính xác đầy đủ chi tiết. - Mẫu nghiên cứu phải đại diện cho khu vực lấy mẫu trên địa bàn nghiên cứu.
- Những giải pháp đề xuất phải có tính khả thi phù hợp với điều kiện của phường. Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa khoa học - Đề tài sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho việc quản lý, xử lý chất thải rắn theo hướng tích cực và giảm thiểu ô nhiễm môi trường - Cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc hoạch định chính sách, công nghệ xử lý phù hợp trong tương lai góp phần giải quyết các vấn đề môi trường phát sinh từ bãi chôn lấp CTR, đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững tại địa phương.2 Ý nghĩa trong thực tiễn - Đánh giá những mặt còn hạn chế trong công tác QLCTRSH. Từ đó giúp cho địa phương định hướng phương pháp QLCTRSH trong thời gian tới. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học 2.
Cơ sở lý luận Quản lý môi trường là tập hợp các biện pháp, pháp luật chính sách, kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tể xã hội của quốc gia. Các nguyên tắc quản lý môi trường, các công cụ thực hiện giám sát chất lượng môi trường, các phương pháp xử lý môi trường bị ô nhiễm xây dựng trên cơ sở hình thành và phát triển của nghành Khoa học môi trường[4] Nhờ sự tập trung quan tâm cao độ của các nhà khoa học trên thế giới, trong thời gian kéo dài từ 1960 đến nay nhiều số liệu, tài liệu nghiên cứu về môi trường đã được tổng kết và biên soạn thành các giáo trình , chuyên khảo, trong đó có nhiều tài liệu cơ sở , phương pháp luận nghiên cứu môi trường, các nghiên cứu và quy luật môi trường. Nhờ kỹ thuật và công nghệ môi trường, các vấn đề ô nhiễm do hoạt động sản xuất của con người đang được nghiên cứu xử lý hoặc phòng tránh, ngăn ngừa. Các kỹ thuật phân tích đo đạc, giám sát chất lượng môi trường như kỹ thuật viễn thám đo đạc môi trường như kỹ thuật viễn thám, tin học được phát triển trên nhiều nước trên thế giới.
Như chúng ta đã biết trong hoạt động sinh hoạt thường ngày của con người dù ở bất kì đâu như: ở nhà, công sở, nơi công cộng ….đều phải thải ra môi trường một lượng rác đáng kể, trong đó rác thải hữu cơ chiếm một tỷ lệ lớn và dễ gây ô nhiễm trở lại. Việc thu gom và xử lý rác sinh hoạt đã và đang gặp rất nhiều khó khăn cho các Công ty quản lý môi trường đô thị ( ở các thành phố ) hay các hợp tác xã vệ sinh môi trường ( ở các huyện, thị trấn ). 5 Rác thải sinh hoạt được để chung trong các thùng đựng rác của các gia đình sau đó chúng được đưa ra thùng đựng rác chung và được xe thu gom chuyển đến bãi tập kết. Như vậy rác được thu gom hỗn hợp, điều này sẽ gây khó khăn cho việc phân loại, xử lý ở giai đoạn sau.
Theo thống kê của các cơ quan chức năng, hiện tại phần lớn rác thải ở nước ta đang được xử lý theo phương pháp chôn lấp, vừa gây ô nhiễm đất vừa gây ô nhiễm nguồn nước. Không những thế biện pháp này còn gây lãng phí diện tích đất vốn đã rất khan hiếm nhất là ở các đô thị. Mặc dù chi phí rẻ thời gian xử lý ngắn nhưng về lâu dài phương pháp này không hiệu quả. Một cách làm khác cũng được tính đến đó là xử lý rác bằng công nghệ thiêu hủy.
Đây là giải pháp đang được áp dụng tại các nước phát triển. Mặc dù đó là công nghệ hiện đại nhưng với điều kiện kinh tế nước ta thì chưa được áp dụng rộng rãi vì chi phí quá đắt. Để khắc phục những nhược điểm trên, các chuyên gia môi trường đã lựa chọn giải pháp xử lý rác bằng công nghệ sinh học là một quá trình khép kín, có thể sử dụng để xử lý rác sinh hoạt, thức ăn thừa, xác động vật… quy trình này góp phần giải quyết được tình trạng ứ đọng rác thải, góp phần làm sạch môi trường (Phạm Văn Đó, 2007) 2. Các khái niệm về chất thải rắn “Chất thải là tất cả mọi thứ mà con người, thiên nhiên, quá trình mà con người tác động vào thiên nhiên thải ra” [1].
Chất thải là chất hoặc vật liệu mà chủ hoặc người tạo ra chúng hiện tại không sử dụng hoặc chúng bị thải bỏ. -Chất thải: Là sản phẩm được sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, giao thông, sinh hoạt gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn. Ngoài ra còn phát sinh trong giao thông vận tải như khí thải của các phương tiện giao thông. Chất thải là kim loại, hóa chất và từ các loại vật liệu khác[2] Chất thải thường bị phát sinh trong quá trình sinh hoạt của con người, trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, thương mại, giao thông vận tải tại hộ gia đình, các cơ quan trường học, nhà hàng, khách sạn.
6 Chất thải rắn là các loại vật chất ở thể rắn như các loại vật liệu, đồ vật bị loại thải từ một quá trình cụ thể của hoạt động sản xuất, dịch vụ, sinh hoạt nào đó của con người. Phần lớn các chất thải rắn đều ở thể rắn và ở khắp mọi nơi xung quanh chúng ta như: gạch đá, xi măng, vôi, vữa, giấy, mảnh sành, mảnh chai, sắt vụn. Chất thải rắn bao gồm các chất hữu cơ như: thức ăn thừa, giấy, bìa các tông, nhựa, vải, cao xu, lá rụng sân vườn…. Các chất vô cơ như: thủy tinh, lon, thiếc, nhôm, kim loại khác, đất cát… 2.