Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quá trình phát triển kinh tế - xã hội cùng với tốc độ đô thị hóa nhanh chóng tại Việt Nam đã thúc đẩy mức sống của người dân tăng cao, song song với việc gia tăng đáng kể khối lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH). Lượng rác thải phát sinh ngày càng đa dạng về thành phần và phức tạp về tính chất ô nhiễm. Theo thống kê được tác giả trích dẫn trong văn bản, tỷ lệ thu gom CTRSH trên phạm vi cả nước mới đạt khoảng 60% đến 80%, lượng còn lại bị thải tự do ra môi trường, gây suy thoái hệ sinh thái đất, nước, không khí và đe dọa cảnh quan văn hóa đô thị cũng như nông thôn. Hầu hết các đô thị và thị xã tại Việt Nam vẫn chưa xây dựng được hệ thống quản lý, xử lý rác thải đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật vệ sinh môi trường.
Phường An Tảo là một trong bảy phường thuộc thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Trong giai đoạn phát triển gần đây, địa phương đạt được nhiều bước tiến về kinh tế và chuyển dịch cơ cấu xã hội, nâng cao điều kiện sống của cư dân. Tuy nhiên, áp lực môi trường gia tăng nhanh chóng do khối lượng rác sinh hoạt thải ra hàng ngày ngày một lớn, trong khi công tác quản lý môi trường tại các cấp ngành cơ sở còn bộc lộ bất cập. Hệ thống văn bản quy phạm tại cơ sở chưa thực sự đi sâu vào đời sống, đội ngũ cán bộ quản lý môi trường còn thiếu hụt về chuyên môn toàn diện. Trước thực tế đó, tác giả Nguyễn Thị Phương Yến đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Khoa học Môi trường tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (năm 2018) dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thanh Hải, nhằm phân tích hiện trạng và đề xuất giải pháp cho địa phương.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định cụ thể gồm 5 nội dung:
- Đưa ra cái nhìn tổng quát và phản ánh chính xác các hoạt động thu gom, phân loại, tái chế và các phương pháp xử lý CTRSH trên địa bàn phường An Tảo.
- Đưa ra các số liệu đánh giá về khối lượng, thành phần và mức độ ảnh hưởng của CTRSH trên địa bàn phường An Tảo.
- Nâng cao nhận thức của người dân về công tác quản lý CTRSH trên địa bàn phường An Tảo.
- Tìm hiểu các văn bản pháp quy có liên quan đến công tác quản lý CTRSH tại phường An Tảo.
- Đề ra những giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CTRSH tại phường An Tảo.
Nghiên cứu đặt ra 3 yêu cầu kỹ thuật:
- Các số liệu, thông tin đưa ra phải đảm bảo độ tin cậy, trung thực, khách quan, chính xác và đầy đủ chi tiết.
- Mẫu nghiên cứu phải mang tính đại diện cho khu vực lấy mẫu trên địa bàn.
- Các giải pháp đề xuất phải có tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế của phường.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nguồn phát sinh rác thải và tình hình thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn phường An Tảo, thành phố Hưng Yên.
- Phạm vi nghiên cứu: Công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn phường An Tảo, thành phố Hưng Yên.
- Địa điểm nghiên cứu: UBND phường An Tảo, thành phố Hưng Yên.
- Thời gian tiến hành nghiên cứu: Từ ngày 15/01/2018 đến ngày 20/05/2018.
Ý nghĩa của đề tài: Về mặt khoa học, nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn phục vụ việc định hướng quản lý, xử lý chất thải rắn, hạn chế tác động tiêu cực từ bãi chôn lấp và hỗ trợ mục tiêu phát triển bền vững. Về mặt thực tiễn, đề tài đánh giá rõ những mặt còn hạn chế trong công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt, giúp chính quyền địa phương định hướng phương thức quản lý trong thời gian tới.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lý thuyết, pháp lý và phương pháp luận chuyên ngành quản lý môi trường:
Cơ sở lý thuyết và pháp lý
- Khái niệm và phân loại: Tác giả hệ thống hóa các định nghĩa về chất thải, chất thải rắn sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải xây dựng, chất thải nông nghiệp, chất thải nguy hại và chất thải đô thị. Thành phần chất thải rắn đô thị được ghi nhận có tỷ lệ chất hữu cơ cao (từ 50,27% đến 62,22%), độ ẩm cao, nhiệt trị thấp (khoảng 900 kcal/kg).
- Tác động môi trường: Phân tích cơ chế ô nhiễm từ nước rỉ rác (tăng nồng độ BOD, COD, TDS, TSS, Coliform, làm giảm DO) gây suy thoái nguồn nước mặt, nước ngầm; phát tán khí ô nhiễm (SO2, CO, CO2, H2S, CH4) do phân hủy kỵ khí; và biến đổi lý - hóa sinh học của môi trường đất.
- Tổng quan công nghệ xử lý: Khái quát 4 phương pháp chính tại Việt Nam: công nghệ Seraphin (tách lọc, vi sinh ASC, ủ compost 7-10 ngày từng triển khai tại Đông Vinh - Nghệ An, Thủy Phương - Huế); phương pháp chôn lấp (với 85-90% bãi rác toàn quốc không hợp vệ sinh); công nghệ chế biến phân vi sinh Compost (nhà máy Cầu Diễn 50.000 tấn/năm, Nam Định 250 tấn/ngày, Hóc Môn 240 tấn/ngày, Bà Rịa - Vũng Tàu 100 m³/ngày); và công nghệ thiêu đốt (chủ yếu xử lý rác y tế với 61 lò đốt toàn quốc, chỉ có 2 lò vận hành hệ thống xử lý khí thải).
- Văn bản pháp lý: Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13; Hiến pháp 2013; Nghị định số 19/2015/NĐ-CP; Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu; Nghị định số 155/2016/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT; Quyết định số 1600/QĐ-TTg; Quyết định số 300/QĐ-UBND về quy hoạch quản lý CTR tỉnh Hưng Yên đến năm 2025; Quyết định số 2478/QĐ-UBND về đề án nâng cao năng lực quan trắc môi trường tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2017 - 2020.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Tiếp nhận số liệu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, báo cáo nhiệm vụ chính trị, quốc phòng an ninh từ UBND phường An Tảo, các văn bản áp dụng tại địa phương và quy trình xử lý rác thải hiện hành.
- Phương pháp phát phiếu điều tra xã hội học: Khảo sát mẫu quy mô 50 phiếu hỏi tại phường An Tảo đối với các hộ gia đình, hộ kinh doanh, cán bộ phường, ban quản lý chợ và công nhân thu gom rác. Nội dung phiếu tập trung vào khối lượng phát sinh, việc nộp phí vệ sinh và ý thức chấp hành bảo vệ môi trường.
- Phương pháp xác định khối lượng và thành phần rác thải:
- Đối với rác thu gom tập trung: Theo dõi điểm tập kết tại từng khu phố, kiểm đếm số lượt xe đẩy tay trong ngày, tuần, tháng trước khi rác được chuyển lên xe cuốn ép chuyên dụng; kết hợp cân thô mẫu rác.
- Đối với hộ gia đình: Tại mỗi khu phố, chọn ngẫu nhiên 20 hộ gia đình để theo dõi, cơ cấu mẫu đại diện cân đối theo 3 nhóm nghề nghiệp: công nhân, viên chức (chiếm 40%); kinh doanh, buôn bán (chiếm 10%); nông nghiệp (chiếm 50%). Tác giả phát túi đựng rác tiêu chuẩn cho các hộ và tiến hành cân rác lặp lại 3 lần/tháng, thực hiện liên tục trong 4 tháng (luân chuyển giữa các ngày đầu tuần, giữa tuần, cuối tuần) để tính lượng phát sinh trung bình (kg/hộ/ngày và kg/người/ngày).
- Đối với cơ quan, công sở, trường học: Khảo sát số lượng nhân viên, học sinh, sinh viên, đặc thù phát thải của các đơn vị trên địa bàn (UBND phường, trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở), tiến hành cân thí điểm và ước tính lượng thải trung bình theo quy mô đơn vị.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu: Số liệu điều tra, đo đạc được tổng hợp, xử lý thống kê bằng phần mềm Microsoft Word và Microsoft Excel.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ xung đột giữa tốc độ gia tăng chất thải và năng lực thu gom, xử lý hạn chế tại đô thị Việt Nam nói chung và phường An Tảo nói riêng. Văn bản nêu rõ 5 mục tiêu nghiên cứu, 3 yêu cầu số liệu và phân tích ý nghĩa khoa học lẫn thực tiễn của khóa luận trong việc hỗ trợ chính quyền địa phương định hướng quy hoạch môi trường bền vững.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng hợp hệ thống lý luận về chất thải rắn đô thị, nguồn phát sinh (dân cư, thương mại, công sở, trường học, dịch vụ đô thị, công nghiệp, nông nghiệp và y tế). Tác giả dẫn chứng số liệu cả nước: tính đến tháng 6/2010, Việt Nam có 729 đô thị, phát sinh CTRSH tăng trung bình 10%/năm; tổng lượng thải tại đô thị loại III và loại IV đạt 6,5 triệu tấn/năm. Đô thị loại đặc biệt và loại I có tỷ lệ phát sinh bình quân từ 0,84 - 0,96 kg/người/ngày; đô thị loại II và III đạt 0,72 - 0,73 kg/người/ngày; trung bình đô thị cả nước đạt 0,73 kg/người/ngày. Khu vực Đông Nam Bộ phát sinh cao nhất (2.245 tấn/năm, chiếm 37,94% tổng lượng đô thị loại III trở lên).
Chương này cũng tổng thuật kinh nghiệm phân loại rác tại nguồn ở Đức (hệ thống thùng 4 màu từ năm 1991), Nhật Bản (mô hình 3R, phân 3 loại rác có chế tài phạt nghiêm ngặt), Singapore (đấu thầu thu gom 7 năm tại 9 khu vực theo cơ chế "từ cửa đến cửa"), cùng việc phân tích 4 công nghệ xử lý tại Việt Nam gồm Seraphin, bãi chôn lấp, ủ phân vi sinh compost và lò đốt rác y tế.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết không gian nghiên cứu tại phường An Tảo, thời gian khảo sát thực địa từ 15/01/2018 đến 20/05/2018. Tác giả mô tả chi tiết phương pháp tiếp cận đa nguồn: thu thập tài liệu hành chính thứ cấp; phát 50 phiếu điều tra xã hội học; thiết lập mạng lưới mẫu đo đạc khối lượng rác thực tế bằng cách chọn 20 hộ/khu phố phân bổ theo 3 nhóm đối tượng sinh kế (công chức 40%, tiểu thương 10%, nông dân 50%), cân lặp lại 3 chu kỳ/tháng kéo dài 4 tháng; quan sát đếm xe đẩy thu gom tại các điểm hẹn; và ứng dụng công cụ xử lý bảng tính Excel.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này tập trung trình bày các kết quả khảo sát thực tế tại phường An Tảo:
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Phường có diện tích tự nhiên 311,87 ha (đất nông nghiệp chiếm 114,07 ha), địa hình bằng phẳng dốc từ bắc xuống nam, nhiệt độ trung bình năm 23,2°C. Quy mô kinh tế năm 2017: tổng thu từ nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ đạt 319.280 triệu đồng; thu nhập bình quân đầu người đạt 46 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giữ ở mức 0,67%. Tiểu thủ công nghiệp có 182 hộ với 1.017 lao động. Cơ sở giáo dục gồm trường THCS (575 học sinh, 41 cán bộ giáo viên năm học 2016-2017), trường Tiểu học (1.031 học sinh, 47 cán bộ giáo viên) và trường Mầm non (288 cháu, 20 cán bộ giáo viên).
- Đánh giá hiện trạng phát sinh CTRSH: Nguồn thải dân cư chiếm tỷ trọng lớn nhất, bên cạnh rác đường phố, công sở, trường học, chợ, dịch vụ thương mại và rác nông nghiệp (bao bì, chai lọ thuốc bảo vệ thực vật). Số liệu đo đạc tại 4 khu phố (An Lợi, An Bình, An Thượng, An Dương) với tổng số 1.865 hộ (5.874 nhân khẩu) cho thấy tổng khối lượng CTRSH phát sinh đạt 6.859,8 kg/ngày.
| STT |
Khu phố |
Số hộ |
Số dân (người) |
Lượng rác bình quân (kg/người/ngày) |
Khối lượng CTRSH (kg/ngày) |
| 1 |
Phố An Lợi |
114 |
435 |
1,3 |
565,5 |
| 2 |
Phố An Bình |
797 |
2.560 |
1,2 |
3.072,0 |
| 3 |
Phố An Thượng |
604 |
1.827 |
0,9 |
1.644,3 |
| 4 |
Phố An Dương |
350 |
1.052 |
1,5 |
1.578,0 |
| Tổng |
Toàn phường |
1.865 |
5.874 |
- |
6.859,8 |
- Hiện trạng thu gom và vận chuyển:
- Công tác tuyên truyền vệ sinh môi trường chủ yếu qua hệ thống truyền thanh (toàn phường có 31 cụm với 62 loa), hiệu quả tiếp cận người dân còn thấp: 10% đánh giá thường xuyên, 56% thỉnh thoảng, 24% không biết và 10% chưa bao giờ nghe.
- Trang thiết bị và nhân lực thu gom sơ cấp: Đội ngũ gồm 38 công nhân thu gom; phương tiện gồm 20 xe đẩy tay do hợp tác xã trang bị. Phương tiện đã cũ và thô sơ; bảo hộ lao động thiếu thốn: 1 bộ quần áo/người/năm, 1 đôi găng tay/tháng, 2 đôi ủng cao su/năm, 1 xẻng, 1 mũ, 2 chổi/người, hoàn toàn chưa được cấp khẩu trang bảo hộ.
| TT |
Chỉ tiêu trang thiết bị thu gom |
Số lượng |
| 1 |
Công nhân thu gom |
38 người |
| 2 |
Xe đẩy rác |
20 xe |
| 3 |
Quần áo bảo hộ lao động |
1 bộ/công nhân/năm |
| 4 |
Găng tay |
1 đôi/người/tháng |
| 5 |
Ủng chân cao su |
2 đôi/người/năm |
| 6 |
Xẻng |
1 chiếc/người |
| 7 |
Mũ |
1 mũ/người |
| 8 |
Chổi |
2 chiếc/người |
- Dụng cụ lưu chứa rác tại hộ dân: Khảo sát 50 phiếu cho thấy 40% hộ dùng túi nilon (20 phiếu), 36% dùng bao tải (18 phiếu), chỉ 14% dùng thùng rác có nắp đậy (7 phiếu, chủ yếu ở khu vực phố buôn bán), 10% sử dụng xô chậu hở.
| TT |
Dụng cụ đựng rác |
Số phiếu |
Tỷ lệ (%) |
| 1 |
Bao tải |
18 |
36 |
| 2 |
Túi nilon |
20 |
40 |
| 3 |
Thùng có nắp đậy |
7 |
14 |
| 4 |
Khác (xô, chậu…) |
5 |
10 |
| Tổng |
- |
50 |
100 |
- Tần suất và hình thức thu gom: 60% hộ dân ghi nhận thu gom 1 ngày/lần (30 phiếu), 30% ghi nhận 2 ngày/lần (15 phiếu), 10% thu gom 1 tuần/lần (5 phiếu). Thời gian thu gom buổi sáng từ 5h00 đến 7h30, buổi chiều từ 15h00 đến 17h00. Tuyến thu gom chính chạy dọc đường Nguyễn Văn Linh và đường Hoàng Hoa Thám.
- Vận chuyển thứ cấp: Sau khi tập kết từ xe đẩy tay về điểm hẹn, Công ty TNHH Một thành viên Môi trường và Công trình đô thị Hưng Yên vận chuyển bằng xe chuyên dụng với tần suất 2 ngày/chuyến. Phí vệ sinh môi trường do người dân đóng góp là 30.000 đồng/hộ/tháng.
- Phân loại rác: Trên toàn địa bàn phường An Tảo chưa triển khai phân loại rác tại nguồn; chất thải được thu gom hỗn hợp đưa đi bãi chôn lấp tập trung. Hoạt động phân loại chỉ diễn ra tự phát ở quy mô nhỏ (người dân giữ lại thức ăn thừa nuôi lợn hoặc nhặt phế liệu kim loại, giấy để bán).
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
- Xác lập bộ số liệu định lượng về tải lượng CTRSH phát sinh thực tế tại 4 khu phố của phường An Tảo trong năm 2018: tổng khối lượng phát sinh từ hộ gia đình đạt 6.859,8 kg/ngày. Định mức phát sinh dao động từ 0,9 kg/người/ngày (phố An Thượng) đến 1,5 kg/người/ngày (phố An Dương), trung bình các khu vực tập trung buôn bán và ven đô có mức phát thải bình quân cao hơn khu vực nông nghiệp thuần túy.
- Nhận diện toàn diện hệ thống thu gom sơ cấp: Đội ngũ 38 công nhân sử dụng 20 xe đẩy tay chịu trách nhiệm thu gom từ ngõ xóm đến các điểm hẹn; việc bốc dỡ trung chuyển giữa xe đẩy tay và xe cơ giới của Công ty TNHH MTV Môi trường và Công trình đô thị Hưng Yên (vận hành 2 ngày/chuyến) chưa đồng bộ, làm ứ đọng rác tại điểm hẹn gây mùi hôi và cản trở giao thông.
- Phản ánh trung thực nhận thức cộng đồng: 76% hộ dân dùng túi nilon và bao tải tạm bợ để chứa rác; 60% dân số được thu gom hàng ngày nhưng vẫn còn 10% phản ánh tần suất 1 tuần/lần; công tác tuyên truyền loa đài mới chỉ tiếp cận thường xuyên tới 10% người dân khảo sát; hiện tượng xả rác, xác súc vật chết, phân chăn nuôi ra mương máng, ao hồ và vứt bao bì thuốc bảo vệ thực vật tại đồng ruộng vẫn còn diễn ra.
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
- Tăng cường trang bị phương tiện và thiết bị bảo hộ: Bổ sung kịp thời trang thiết bị bảo hộ đạt chuẩn cho 38 công nhân thu gom (đặc biệt là khẩu trang than hoạt tính, găng tay, ủng cao su); thay thế định kỳ hệ thống 20 xe gom đẩy tay đã xuống cấp.
- Cải tiến tổ chức thu gom và điều chỉnh chi phí: Quy hoạch lại các điểm trung chuyển rác thải có khoảng cách ly hợp lý; bố trí lịch trình xe cuốn ép cơ giới khớp với thời gian tập kết của xe gom tay để chấm dứt tình trạng rác lưu bãi qua đêm; nghiên cứu nâng mức phí vệ sinh môi trường (mức 30.000 đồng/hộ/tháng hiện tại chưa đảm bảo đời sống cho công nhân).
- Thúc đẩy phân loại tại nguồn và ban hành chế tài: Tăng cường truyền thông sâu rộng về phân loại rác hữu cơ/vô cơ thay vì chỉ phát thanh định kỳ; xây dựng quy chế và áp dụng chế tài xử phạt hành chính đối với hành vi vứt rác bừa bãi và không phân loại rác theo quy định.
Đóng góp của đề tài
Khóa luận đã bổ sung cơ sở dữ liệu thực nghiệm chi tiết về khối lượng và đặc điểm dòng thải sinh hoạt cấp phường tại thành phố Hưng Yên – vùng đô thị loại III đang trong tiến trình đô thị hóa mạnh mẽ. Công trình đóng vai trò báo cáo đánh giá hiện trạng độc lập, cung cấp căn cứ thực tiễn cho UBND phường An Tảo và cơ quan quản lý tài nguyên môi trường thành phố Hưng Yên điều chỉnh quy hoạch thu gom và quản lý chất thải rắn đến năm 2025.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Thời gian nghiên cứu thực địa giới hạn trong 4 tháng (từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2018), chưa bao quát đầy đủ sự biến động phát sinh rác thải sinh hoạt theo chu kỳ các mùa khác nhau trong năm (đặc biệt giữa mùa mưa và mùa khô).
- Quy mô khảo sát xã hội học còn khiêm tốn (50 phiếu điều tra), chủ yếu phản ánh ý kiến định tính của đại diện hộ dân và công nhân tại một số trục đường chính.
- Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào chất thải rắn sinh hoạt hộ gia đình; các nguồn thải từ cơ quan, trường học, chợ và phế phẩm nông nghiệp mới dừng lại ở mức ước tính định tính, chưa có phân tích trong phòng thí nghiệm về thành phần lý - hóa học cụ thể (độ ẩm, tỷ lệ tro, nhiệt trị).
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng quan trắc đo đạc khối lượng dòng thải theo chu kỳ cả năm để xác định hệ số biến động theo mùa.
- Phân tích chuyên sâu trong phòng thí nghiệm các chỉ tiêu hóa lý của rác thải phường An Tảo (tỷ lệ hữu cơ có thể phân hủy, hàm lượng kim loại nặng, độ ẩm) nhằm làm cơ sở lựa chọn chính xác giữa công nghệ ủ phân hữu cơ compost hoặc đốt rác phát điện.
- Thiết kế mô hình thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn ở quy mô 1 khu phố (như phố An Bình hoặc An Thượng) để đánh giá tính khả thi kinh tế - kỹ thuật trước khi nhân rộng toàn phường.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Môi trường khi thực hiện khóa luận tốt nghiệp hoặc chuyên đề thực tập về quản lý chất thải rắn cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn).
- Cán bộ phụ trách địa chính - xây dựng - môi trường cấp xã/phường, cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hưng Yên trong công tác theo dõi hiện trạng thu gom, rà soát trang thiết bị lao động của hợp tác xã dịch vụ môi trường và xây dựng đề án phân loại rác tại nguồn.
- Phần đáng tham khảo nhất của công trình là quy trình xây dựng phương pháp cân đo khối lượng rác thực nghiệm có phân tầng theo cơ cấu nghề nghiệp (40% công chức, 10% kinh doanh, 50% nông nghiệp) và hệ thống biểu mẫu thống kê chi tiết về năng lực thiết bị thu gom sơ cấp.
Câu hỏi thường gặp
1. Tổng khối lượng CTRSH phát sinh hàng ngày từ các hộ dân phường An Tảo là bao nhiêu và khu phố nào phát sinh nhiều nhất?
Theo kết quả điều tra cân đo thực tế tại 4 khu phố (gồm 1.865 hộ với 5.874 người), tổng khối lượng CTRSH phát sinh từ hộ gia đình là 6.859,8 kg/ngày. Trong đó, phố An Bình có khối lượng phát sinh lớn nhất với 3.072 kg/ngày do có số dân đông nhất (2.560 người); tiếp theo là phố An Thượng (1.644,3 kg/ngày), phố An Dương (1.578 kg/ngày) và phố An Lợi (565,5 kg/ngày). Xét về tỷ lệ phát sinh bình quân đầu người, phố An Dương cao nhất với 1,5 kg/người/ngày.
2. Đội ngũ nhân lực và trang thiết bị thu gom sơ cấp tại phường An Tảo năm 2018 được trang bị như thế nào?
Toàn phường có 38 công nhân thu gom rác và 20 xe đẩy tay do hợp tác xã trang bị. Phương tiện thu gom đã cũ kỹ và thô sơ. Chế độ trang bị bảo hộ lao động cho công nhân rất thiếu thốn: mỗi công nhân chỉ được cấp 1 bộ quần áo bảo hộ/năm, 1 đôi găng tay/tháng, 2 đôi ủng cao su/năm, 1 xẻng, 1 mũ và 2 chổi; địa phương chưa cấp khẩu trang bảo hộ lao động cho công nhân.
3. Đơn vị nào chịu trách nhiệm vận chuyển và xử lý rác thải sau điểm tập kết tại phường An Tảo với tần suất ra sao?
Rác thải sinh hoạt sau khi được công nhân dùng xe đẩy tay thu gom từ các hộ dân về điểm trung chuyển sẽ do Công ty TNHH Một thành viên Môi trường và Công trình đô thị Hưng Yên vận chuyển bằng xe cuốn ép chuyên dụng với tần suất 2 ngày/chuyến để đưa về bãi chôn lấp tập trung.
4. Người dân phường An Tảo sử dụng dụng cụ gì để chứa rác và mức phí dịch vụ vệ sinh môi trường là bao nhiêu?
Kết quả khảo sát 50 phiếu cho thấy: 40% hộ dân dùng túi nilon (20 phiếu), 36% dùng bao tải (18 phiếu), chỉ có 14% số hộ sử dụng thùng rác chuyên dụng có nắp đậy (7 phiếu, chủ yếu ở khu vực phố chợ), 10% còn lại dùng xô chậu hở. Mức phí vệ sinh môi trường người dân đóng góp cho công nhân thu gom là 30.000 đồng/hộ/tháng.
5. Hoạt động phân loại rác thải tại nguồn ở phường An Tảo đã được triển khai bài bản chưa?
Tính đến năm 2018, trên địa bàn phường An Tảo hoàn toàn chưa triển khai chương trình phân loại CTRSH tại nguồn mang tính pháp lý hay hệ thống; rác thải phát sinh được thu gom hỗn hợp mang đi chôn lấp. Các hoạt động phân loại chỉ mang tính tự phát ở một số hộ dân tận dụng thức ăn thừa chăn nuôi lợn hoặc nhặt riêng nhôm, kim loại, giấy vụn để bán phế liệu.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Phương Yến đã phản ánh bức tranh hiện trạng toàn diện về công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại phường An Tảo, thành phố Hưng Yên trong năm 2018. Thông qua phương pháp cân đo mẫu trực tiếp kết hợp điều tra xã hội học, nghiên cứu đã lượng hóa được tổng lượng phát thải rác sinh hoạt hộ gia đình đạt 6.859,8 kg/ngày và chỉ ra những điểm nghẽn lớn trong khâu phân loại tại nguồn, sự thiếu thốn về trang thiết bị bảo hộ của đội ngũ 38 công nhân thu gom, cũng như bất cập trong tần suất vận chuyển trung chuyển. Công trình là nguồn tư liệu thực chứng có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp trực tiếp cho công tác quản lý tài nguyên môi trường và định hướng hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật đô thị tại địa phương.