MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Trong giai đoạn hội nhập WTO hiện nay, Việt Nam ta ngày càng đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế để theo kịp sự tiến bộ, hiện đại của các nước trên thế giới. Do đó, các khu chế xuất (KCX) và khu công nghiệp (KCN) cũng như các cơ sở sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển nhiều hơn. Riêng với thành phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM), tính đến cuối năm 2008, có gần 2.000 cơ sở sản xuất vừa và nhỏ được xây dựng trong và ngoài 11 KCN, 03 KCX, 01 khu công nghệ cao và 33 cụm công nghiệp [7].
Song song với sự phát triển này thì lượng chất thải rắn công nghiệp (CTRCN) và chất thải nguy hại (CTNH) gia tăng nhanh chóng. Điển hình như ở Tp.HCM mỗi ngày thải khoảng 1.000 tấn CTRCN, trong đó có khoảng 500 – 700 tấn CTNH. Các loại chất thải này đa dạng, hầu hết đều có thể tái sử dụng và tái chế với giá trị kinh tế ở mức độ khác nhau [7]. Cùng với đà phát triển kinh tế đó, chúng ta phải đối mặt với những tác động tiêu cực đến môi trường (MT) và sức khỏe con người.
Bên cạnh những tác hại do ô nhiễm nước thải, khí thải đã được các phương tiện thông tin đại chúng đề cập nhiều thì ô nhiễm do CTRCN cũng là một vấn đề nghiêm trọng chẳng kém, nhất là tại các KCX và KCN. KCX Tân Thuận – KCX đầu tiên của nước ta, tập trung các xí nghiệp công nghiệp như may, dệt, chế biến thực phẩm, nhựa, bao bì, lắp ráp điện tử, cơ khí chế tạo,. KCX Tân Thuận được đánh giá là KCX thành công nhất ở Việt Nam [14]. Tuy nhiên, hiện trạng CTRCN tại đây vẫn chưa được quản lý tốt, chưa hoàn toàn tuân thủ đúng quy định.
Do vậy, Luận văn tốt nghiệp với đề tài : Khảo sát, đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý chất thải rắn công nghiệp tại khu chế xuất Tân Thuận có mục đích nâng cao hiệu quả công tác quản lý CTRCN tại KCX Tân Thuận cũng như các KCX và KCN khác có cùng đặc điểm. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Mục tiêu của đề tài là đề xuất biện pháp quản lý CTRCN tại KCX Tân Thuận, được đặt trọng tâm trên các điểm sau - Cung cấp thông tin về hiện trạng CTRCN tại KCX Tân Thuận. - Đánh giá hiện trạng phát sinh và quản lý CTRCN tại KCX Tân Thuận. - Đề xuất các biện pháp quản lý CTRCN tại KCX Tân Thuận theo hướng phát triển bền vững.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Để đạt được mục tiêu trên, các phương pháp nghiên cứu cần thực hiện trong đề tài bao gồm - Phương pháp khảo sát thực tế. - Phương pháp thu thập tài liệu. - Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê số liệu và tài liệu liên quan. - Phương pháp tham khảo, kế thừa các nghiên cứu và phương pháp về quản lý CTRCN hiện nay.
- Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia. PHẠM VI VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu của đề tài là CTRCN phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp. Do đó, đề tài không đi sâu vào các vấn đề liên quan đến chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) và CTRCN từ hoạt động kinh doanh, dịch vụ. Khu vực nghiên cứu của đề tài là ở KCX Tân Thuận tại Tp.
Thời gian nghiên cứu từ ngày 16/09/2009 đến ngày 16/12/2009. Nội dung nghiên cứu bao gồm - Tổng hợp một cách tổng quát các số liệu và tài liệu có liên quan đến CTRCN. Nhận định chung về hiện trạng quản lý CTRCN tại Việt Nam nói chung và Tp. Tác hại của ô nhiễm do CTRCN đến MT và sức khỏe con người.
- Tìm hiểu sơ lược về hoạt động của KCX Tân Thuận gồm lịch sử hình thành, phát triển và tình hình thu hút đầu tư (tính đến tháng 6/2009). 2 - Những ghi nhận về hiện trạng phát sinh và quản lý CTRCN tại KCX Tân Thuận bằng việc khảo sát thực tế Trạm phân loại và lưu trữ CTRCN của KCX Tân Thuận và khoảng 20 cơ sở sản xuất trong KCX này. - Thu thập các thông tin về hiện trạng quản lý tại Phòng Quản lý Môi trường – Ban quản lý các khu chế xuất và công nghiệp Tp.HCM (HEPZA) gồm 2 nội dung : • Sự tuân thủ về quản lý CTRCN của các doanh nghiệp trong KCX Tân Thuận thông qua các văn bản và hồ sơ lưu trữ hiện hành. • Hiện trạng quản lý của Phòng Quản lý Môi trường – HEPZA (cơ sở vật chất, nhân lực và cách quản lý).
- Đánh giá hiện trạng quản lý CTRCN tại KCX Tân Thuận (ưu và nhược điểm) dựa trên việc so sánh với văn bản pháp luật và hiện trạng ở các KCX, KCN khác thuộc địa bàn Tp. - Đề xuất biện pháp quản lý CTRCN tại KCX Tân Thuận theo hướng phát triển bền vững : biện pháp kỹ thuật (phân loại – lưu trữ tại nguồn, thu gom – vận chuyển và tái sử dụng – tái chế), biện pháp quản lý Nhà nước ở Phòng Quản lý Môi trường – HEPZA (tăng cường ng uồn nhân lực, thu thập – lưu trữ hiệu quả các văn bản, tăng cường thanh tra – kiểm tra và ứng dụng công nghệ thông tin) và nâng cao nhận thức doanh nghiệp. - Đánh giá tính khả thi của biện pháp cấp bách và mang lại hiệu quả lâu dài (tăng cường nguồn nhân lực cho Phòng Quản lý Môi trường – HEPZA và nâng cao nhận thức doanh nghiệp) : thuận lợi, khó khăn và hướng khắc phục. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN Từ khảo sát thực tế tại KCX Tân Thuận, Luận văn hệ thống hóa những thông tin, số liệu thu thập.
Từ đó, đưa ra những đánh giá khách quan và chính xác hơn về hiện trạng quản lý CTRCN tại đây. Luận văn cũng nêu được các biện pháp quản lý CTRCN tại KCX Tân Thuận mang tính thiết thực dựa trên những khảo sát thực tế và việc tham khảo ý kiến chuyên gia. Với mong muốn các thông tin trong Luận văn này sẽ là tài liệu cho các nghiên cứu về công tác quản lý CTRCN tại KCX Tân Thuận sau này cũng như triển khai cho các KCX và KCN có cùng đặc điểm. 3 Chương 2 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN CÔNG NGHIỆP VÀ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN CÔNG NGHIỆP TẠI KHU CHẾ XUẤT TÂN THUẬN 2.
TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN CÔNG NGHIỆP VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN MÔI TRƯỜNG 2. Giới thiệu về chất thải rắn công nghiệp - CTRCN là chất thải rắn (CTR) phát thải từ hoạt động sản xuất công nghiệ p, kinh doanh, làng nghề, dịch vụ hoặc các hoạt động khác,… và được chia thành hai loại gồm CTR không nguy hại và CTR nguy hại [5]. - CTR không nguy hại bao gồm phế liệu và chất thải bỏ : • Phế liệu là sản phẩm có khuyết tật, nguyên liệu bị loại ra từ quá trình sản xuất hay sản phẩm đã tiêu dùng được thu hồi để tái chế, sau đó được sử dụng làm nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất sản phẩm khác [5]. • Chất thải bỏ là CTR không thể sử dụng lại được, phải được thu gom, phân loại, lưu trữ và xử lý (XL) hợp vệ sinh MT.
- CTR nguy hại là CTR chứa các chất hoặc hợp chất có một trong những đặc tính như phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc các đặc tính nguy hại khác [5]. Hoạt động công nghiệp là nguồn phát sinh CTNH lớn nhất và phụ thuộc rất nhiều vào loại ngành công nghiệp, đây cũng là nguồn phát thải mang tính thường xuyên và ổn định nhất [9]. Các ngành công nghiệp phát sinh nhiều CTR nguy hại như các ngành liên quan đến kim loại (gia công cơ khí – xi mạ), nhựa, hóa chất, cao su, điệ n – điện tử, dệt nhuộm, thủy tinh, sơn, thuộc da, mực in, pin – bình acquy, sản xuất thuốc bảo vệ thực vật,… Tỷ lệ (%) CTNH trong chất thải công nghiệp tại Tp.HCM (ước tính) được trình bày trong bảng 2.1 : Tỷ lệ (%) CTNH trong chất thải một số ngành công nghiệp tại Tp. Tỷ lệ CTNH Ngành công STT Thành phần CTNH trong chất thải nghiệp công nghiệp (%) 1 Dệt nhuộm, in vải Thùng chứa hóa chất, mực in 39,4 2 Da và giả da Thùng chứa hóa chất 10,0 3 Giấy, in giấy Bảng in hư, mực in 34,3 4 Gỗ, mỹ nghệ Gòn đánh vecni 0,2 5 Điện tử Xỉ hàn chì, bản mạch điện tử 37,9 6 Gia công cơ khí Giẻ lau dầu nhớt 23,9 7 Hóa chất và liên Xỉ kim loại nặng, các loại bao bì 75,2 quan đến hóa chất chứa hóa chất, hóa chất hư, cặn lắng chứa hóa chất – kim loại nặng, dược phế phẩm 8 Cao phân tử Bao bì, cặn hóa chất 30,0 Qua quá trình khảo sát thực tế tại các KCX và KCN ở Tp.HCM, nhận thấy các CTRCN nguy hại có chứa hoặc nhiễm PCBs (Polychlorinate d Bi-phenyls) là điển hình nhất.
Do PCBs có khả năng ứng dụng cao trong các ngành công nghiệp điện (máy biến thế, acquy, bóng đèn huỳnh qua ng, dầu chịu nhiệt,… ), trong ngành in (dung môi chế tạo mực in), ngành công nghiệp sản xuất sơn,… Trong đó, bóng đèn huỳnh quang hư hỏng (hình 2.1 a) và thùng phuy đựng dầu nhớt (hình 2.1 b) là hai loại CTR nguy hại thường gặp. PCBs dễ bay hơi, khả năng phát tán cao. Do vậy, các loại CTRCN nguy hại nhiễm PCBs nếu không được thu gom, lưu trữ, vận chuyển, XL triệt để sẽ gây ô nhiễm MT khí, đất; tích tụ trong bùn lắng của sông, ao hồ gây tác hại lâu dài lên chất lượng nước mặt; từ đất và nước mặt lan truyền sang nước ngầm và tất yếu sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe con người và sinh vật. 5 Thông qua các tuyến tiếp xúc, PCBs phá vỡ các tuyến nội tiết trong cơ thể sinh vật, ảnh hưởng đến khả năng sinh sản và hệ miễn dịch, gây rối loạn hệ thần kinh và là tác nhân gây ung thư [9].1 a : Bóng đèn huỳnh quang thải.1 b : Thùng phuy đựng dầu nhớt.
Chất thải rắn công nghiệp và các vấn đề môi trường - Lượng CTRCN ngày càng nhiều do phát triển công nghiệp, đặc biệt là lượng CTRCN nguy hại. Tuy nhiên, đa phần công tác thu gom, phân loại, XL CTRCN chưa đạt hiệu quả và chưa tuân thủ đúng quy định về an toàn vệ sinh. Theo thống kê của Cục Môi trường, năm 2002, tổng lượng CTRCN nguy hại phát sinh mỗi năm tại 3 vùng phát triển kinh tế trọng điểm (KTTĐ) là 113.188 tấn [10] , cụ thể được trình bày theo bảng 2.