CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Lịch sử phát hiện và tình hình nhiễm HIV 1. Sự phát hiện và tình hình nhiễm HIV trên thế giới Ngày 5 tháng 6 năm 1981, trung tâm phòng chống bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) đã công bố trên tuần báo Bệnh tật và tử vong (MMWR-Morbidity and Mortality Weeky Report), mô tả trường hợp viêm phổi do Pneumocytic carinii Pneumonia (PCP) ở 5 nam thanh niên đồng tính tại Los Angeles. Cả 5 nam thanh niên này trước đó có tiền sử khoẻ mạnh, nhưng có các biểu hiện nhiễm trùng bất thường giống như là hệ miễn dịch của họ không làm việc.
Hai trong số 5 người đã chết sau khi tuần báo được xuất bản. Ngày hôm sau, CDC nhận được rất nhiều báo cáo về các trường hợp viêm phổi do PCP và các nhiễm trùng cơ hội tương tự ở nam thanh niên đồng tính, bao gồm cả một nhóm các ca bệnh Kaposi Sarcoma (KS) trong nhóm nam thanh niên đồng tính ở New York và California [12]. Vào ngày 24 tháng 9 năm 1982, CDC sử dụng thuật ngữ “AIDS” (hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải) lần đầu tiên và đưa ra định nghĩa bệnh AIDS. Ngày 10 tháng 12, CDC báo cáo một ca suy giảm miễn dịch mắc phải ở trẻ sơ sinh được truyền máu, tiếp sau đó 22 ca suy giảm miễn dịch và nhiễm trùng cơ hội không lý giải được nguyên nhân ở trẻ sơ sinh được báo cáo [12].
Ngày 20 tháng 5 năm 1983, Tiến sĩ Françoise Barré-Sinoussi cùng đồng nghiệp tại viện Pasteur của Pháp đã phát hiện một loại Retrovirus, họ gọi là LAV Lymphadenopathy Associated Virus, được cho rằng có thể là nguyên nhân gây suy giảm miễn dịch mắc phải. Tháng 4 năm 1984, Tiến sĩ Robert Gallo và cộng sự đã tìm ra nguyên nhân gây AIDS là một loại retrovirus, được đặt tên là HTLV-III (human T-cell lymphotropic virus type III), đồng thời ông cũng thông báo phát triển các xét nghiệm máu nhằm phát hiện virus và bày tỏ hy vọng sẽ chế tạo thành công vaccine ngừa HTLV-III trong vòng 2 năm. Tháng 10 năm 1984, khi phân tích gen của LAV 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và HTLV-III, người ta thấy chúng cơ bản giống nhau và đều là tác nhân gây AIDS [12]. Vào tháng 3 năm 1985, người ta bắt đầu sử dụng các bộ sinh phẩm để phát hiện kháng thể kháng HIV bằng kỹ thuật miễn dịch gắn enzyme (ELISA).
Tháng 5 năm 1986, tại một hội nghị quốc tế người ta đã thống nhất gọi virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch ở người là HIV, gây bệnh ở hầu hết các châu lục, sau gọi là HIV- 1 [12]. Tháng 3 năm 1987, FDA phê duyệt thuốc điều trị kháng retrovirus đầu tiên là AZT, có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của HIV [12]. Ngày 1 tháng 12 năm 1988, ngày AIDS thế giới lần đầu tiên được WHO tổ chức và được bảo trợ bởi Mỹ [64]. Năm 1989, người ta đưa ra các hướng điều trị bằng thuốc AZT cho những người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS dựa trên cơ sở đếm số lượng tế bào TCD4 của người bệnh để đánh giá hiệu quả của thuốc [12].
Ngày 24 tháng 11 năm 2009, UNAIDS báo cáo rằng đã có sự giảm đáng kể (17%) các trường hợp nhiễm HIV mới trong thập kỷ qua. Tuy nhiên, ở Đông Á, tỷ lệ nhiễm HIV tăng 25% so với cùng kỳ. Ngày 24 tháng 11 năm 2015, UNAIDS công bố báo cáo ngày Thế giới phòng chống AIDS, cho thấy 15,8 triệu người đang điều trị ARV vào tháng 6 năm 2015 - tăng hơn gấp đôi số người đang điều trị trong năm 2010 [12]. HIV nhanh chóng lan truyền và trở thành mối lo sợ với loài người.
Hiện nay, hơn 160 quốc gia đã bị ảnh hưởng bởi HIV, trong đó khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất là Tây Phi. Năm 2016 có 1,8 triệu người mới nhiễm HIV, nâng tổng số nhiễm HIV trên toàn thế giới lên con số 36,7 triệu người, số người chất liên quan đến AIDS là 1 triệu [58]. Ngày 24/5/2016, Viện Y tế Quốc gia và các đối tác công bố sẽ khởi động một thử nghiệm vắc xin HIV lớn ở Nam Phi vào tháng 11 năm 2016, trong khi chờ phê duyệt. Đây là lần đầu tiên kể từ năm 2009 cộng đồng khoa học đã bắt tay vào một thử nghiệm lâm sàng vắc xin HIV có quy mô này [12].
Ngày 8-10/6/2016, Liên hợp quốc tổ chức cuộc họp cấp cao vào năm 2016 về chấm dứt AIDS. Các quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc cam kết chấm dứt dịch 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com AIDS vào năm 2030, nhưng cuộc họp giữa 50 quốc gia vẫn còn nhiều vấn đề đang tranh luận. Nghị quyết cuối cùng đề cập đến những người có nguy cơ nhiễm HIV/AIDS cao nhất: nam có quan hệ tình dục đồng giới, mại dâm, người chuyển giới và người tiêm chích ma túy [12]. Theo báo cáo của UNAIDS, số trẻ em (từ 0 - 14 tuổi) chết vì các bệnh liên quan đến AIDS gần như đã được cắt giảm một nửa từ 210.
Phần lớn sự suy giảm này là do giảm đáng kể các ca nhiễm HIV mới ở trẻ em, tăng khả năng tiếp cận với liệu pháp kháng retrovirus ở trẻ em cũng đóng một vai trò quan trọng [58]. Tình hình nhiễm HIV ở Việt Nam Ở Việt Nam, trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào tháng 12 năm 1990 ở thành phố Hồ Chí Minh, đến tháng 12/1992 đã có thêm 11 ca bị nhiễm. Sau đó số lượng ca nhiễm tăng nhanh do có sự tăng cường khả năng giám sát và xét nghiệm phát hiện [3]. Lúc đầu xuất hiện ở thành phố Hồ Chí Minh, nhưng sau đó HIV nhanh chóng lan rộng.
Đến tháng 6/1995 đã có 34/53 tỉnh thành có người nhiễm HIV và đến nay cả 64/64 tỉnh thành đều có người nhiễm HIV và tử vong vì AIDS, nhiều nhất là thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Thanh Hoá 1,3. Trong số những người được báo cáo xét nghiệm mới phát hiện nhiễm HIV trong 6 tháng đầu năm 2017, nữ chiếm 32,3%, nam chiếm 67,7%, lây truyền qua đường tình dục chiếm 57,8%, lây truyền qua đường máu chiếm 31,9%, mẹ truyền sang con chiếm 1,9%, không rõ chiếm 8,4% [1]. Trong 6 tháng đầu năm 2017, cả nước xét nghiệm phát hiện mới 4.541 trường hợp nhiễm HIV, số bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS là 2.321, số bệnh nhân tử vong 799 trường hợp. Trong đó, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh phát hiện nhiều nhất chiếm 20% số ca phát hiện cả nước 1.
Dịch HIV/AIDS vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ trong cộng đồng. Dự báo vẫn còn nhiều người bị nhiễm HIV không thuộc nhóm nguy cơ cao, rất khó phát hiện sớm, 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các trường hợp này thường chuẩn đoán muộn giai đoạn AIDS. Do đó các địa phương cần có các biện pháp xét nghiệm phát hiện phù hợp để có thể hỗ trợ người bị nhiễm HIV sớm biết tình trạng của bản thân [1]. Đặc điểm của HIV 1.
Hình dạng và cấu trúc HIV thuộc nhóm Retrovirus, họ Lentivirrus, có dạng hình cầu, cấu trúc gồm 3 lớp [34]. Lớp vỏ ngoài (vỏ peplon) Vỏ của virus HIV là một lớp lipid kép, có kháng nguyên chéo với màng sinh chất tế bào. Gắn trên màng này là khoảng 72 các gai nhú, đó là các phân tử glycoprotein, gồm 2 phần: - Glycoprotein màng ngoài có trọng lượng phân tử là 120 kDa (GP120) ở HIV- 1 và 125 kDa (GP125) ở HIV-2. GP120 là kháng nguyên dễ biến đổi nhất, gây khó khăn cho khả năng nhớ và phát hiện của hệ miễn dịch cũng như thách thức trong sản xuất vaccine phòng ngừa virus.
- Glycoprotein xuyên màng GP41 có trọng lượng phân tử 41 kDa ở HIV-1 và 36 kDa ở HIV-2. Lớp vỏ trong (vỏ capsid) Vỏ này bao gồm 2 lớp protein: - Lớp ngoài hình cầu cấu tạo bởi các các phân tử protein có trọng lượng phân tử là 18 kDa, viết tắt là P18 ở HIV-1 và P16 ở HIV-2. - Lớp trong hình trụ, cấu tạo bởi các phân tử protein có trọng lượng 24 kDa (gọi tắt là P24) ở HIV-1 và P26 ở HIV-2, đây là kháng nguyên rất quan trọng trong xét nghiệm chẩn đoán nhiễm HIV. Lõi Là những thành phần bên trong lớp vỏ capsid, bao gồm: 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Hai phân tử ARN đơn, chính là bộ gen di truyền của HIV.
HIV chỉ có 9 gen (so với hơn 500 gen của vi khuẩn và khoảng 20.000 ở người), trong đó 3 gen chứa các thông tin cần thiết để quy định protein cấu trúc của các hạt virus mới: + Gag (Group specific antigen) là các gen mã hoá cho các kháng nguyên đặc hiệu nhóm của lớp vỏ trong của virus. + Pol (Polymerase) mã hoá cho enzyme phiên mã ngược (RT- Reverse Transcriptase), protease và endonuclease (còn gọi là Integrase) + Env (Envelop) là gen mã hoá cho các glycoprotein lớp vỏ ngoài của virus. - RT: là enzyme phiên mã ngược, đảm bảo sao mã ngược bộ ARN của virus thành ADN. - Protein P12 của virus HIV có tác dụng tách các protein mã hoá bởi gen Gag và Pol thành các phân tử hoạt động.
- Endo nuclease 31 ở HIV -1 và P34 ở HIV-2 đảm nhiệm việc tích hợp ARN của virus vào ADN của tế bào vật chủ. - Ngoài 3 loại gen cấu trúc trên (có ở mọi loại Retrovirus), HIV còn có các gen điều hoà quá trình nhân lên của virus HIV, kiểm soát khả năng lây nhiễm. Cấu trúc của HIV [34] 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Sự xâm nhập và nhân lên của virus tại tế bào vật chủ 1.
Sự hấp phụ lên bề mặt tế bào HIV bám vào bề mặt tế bào nhờ sự phù hợp giữa receptor bề mặt tế bào và GP120 của virus. Trong đa số các trường hợp, các receptor này là các thụ thể CD4 của tế bào lympho T hỗ trợ. Edward Berger đã xác định có 2 đồng thụ thể là các chemokine receptor trên bề mặt tế bào TCD4 tham gia vào sự gắn của HIV lên màng tế bào vật chủ là CCR5 và CXCR4 [45]. Một số tế bào khác như bạch cầu mono, đại thực bào, tế bào hình sao… cũng có thể là tế bào đích của virus, các tế bào này có thể chứa rất nhiều virus mà không bị phá huỷ.
Chúng được gọi là hồ chứa HIV. Đại thực bào là một tác nhân hỗ trợ sự sinh tồn của virus HIV trong cơ thể. Các virus HIV phụ thuộc vào đại thực bào thì độc lập với tế bào T và chúng cũng đáp ứng điều trị với ART, tuy nhiên việc đáp ứng này không triệt để [30]. Sự xâm nhập vào tế bào Sau khi bám được vào receptor của tế bào vật chủ, phân tử GP41 của HIV cắm sâu vào màng tế bào, tạo nên sự hoà nhập của vỏ virus với màng tế bào.