Chương 1: Giới thiệu, trình bày sự cần thiết của nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu; đối tượng, phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và khung phân tích nghiên cứu. Trình bày các lý thuyết về phân bổ NSNN theo định hướng kết quả đầu ra; Các nguyên tắc và tiêu 4 chí phân bổ vốn đầu tư từ NSNN theo quy định của Nhà nước; tình hình các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài để làm cơ sở hình thành khung phân tích nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Bao gồm thiết kế nghiên cứu, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phân bổ vốn đầu tư từ NSNN; phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp phân tích dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương này thực hiện phân tích, diễn giải các dữ liệu đã thu được từ cuộc khảo sát bao gồm các kết quả thống kê về đặc điểm mẫu phỏng vấn, kết quả đánh giá sự phù hợp của các tiêu chí và hệ thống phân bổ vốn ĐTPT từ NSNN đang áp dụng trên địa bàn tỉnh Long An; Phân tích các điều kiện thực hiện phân bổ vốn ĐTPT từ NSNN theo kết quả đầu ra trên địa bàn tỉnh Long An trong thời gian tới. Chương 5: Kết luận và các khuyến nghị chính sách.
Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu; hàm ý chính sách trên cơ sở kết quả nghiên cứu để nâng cao hiệu quả phân bổ vốn ĐTPT từ NSNN tỉnh Long An. Đồng thời, chỉ ra những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH NGHIÊN CỨU Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về phân bổ vốn ĐTPT từ NSNN, các chỉ tiêu phân bổ vốn đầu tư từ NSNN đang được áp dụng trên địa bàn tỉnh Long An và lược khảo một số tài liệu, nghiên cứu có liên quan làm cơ sở xây dựng khung phân tích của đề tài nghiên cứu của luận văn. Ngân sách nhà nước Theo Điều 4, Luật NSNN năm 2015 thì “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
Hệ thống NSNN là tổng thể ngân sách của các cấp chính quyền từ trung ương xuống đến cơ sở. Ở nước ta hệ thống ngân sách được tổ chức theo hai cấp: ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, trong đó ngân sách địa phương gồm ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã (Luật NSNN năm 2015).Cơ cấu hệ thống NSNN được mô tả theo hình 2. Giữa các cấp ngân sách gắn với nhau bởi hệ thống các quan hệ tài chính. Ngân sách trung ương với ngân sách địa phương và giữa các cấp trong ngân sách địa phương có mối quan hệ với nhau thông qua các khoản bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới.
Các khoản bổ sung này bảo đảm cân đối ngân sách địa phương, giúp địa phương khắc phục những khó khăn do điều kiện lịch sử, điều kiện tự nhiên xã hội tạo ra. Quan hệ giữa các cấp ngân sách: Ngân sách mỗi cấp được phân định nhiệm vụ chi và nguồn thu cụ thể. Thực hiện cơ chế bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để đảm bảo tính công bằng và yêu cầu phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương. Số bổ sung này là khoản thu của ngân sách cấp dưới.
6 Hệ thống ngân sách nhà nước Ngân sách Trung ương Ngân sách địa phương Ngân sách cấp tỉnh (Bao gồm tỉnh, thành phố thuộc trung ương) Ngân sách cấp huyện (bao gồm quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh) Ngân sách cấp xã (bao gồm xã, phường, thị trấn) Hình 2.1: Hệ thống NSNN ở Việt Nam Nguồn: Luật NSNN 2015 (Quốc hội, 2015) Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ. Ngoài cơ chế bổ sung nguồn thu và cơ chế ủy quyền không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho các nhiệm vụ của cấp khác, trừ trường hợp đặc biệt theo qui định của Chính phủ. Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ nghiên cứu phân bổ ngân sách cấp tỉnh tức là ngân sách do HĐND và UBND tỉnh trực tiếp quản lý theo quy định của Luật NSNN. Phương thức phân bổ vốn ngân sách nhà nước theo đầu ra Lịch sử nền tài chính công đã trải qua nhiều phương thức phân bổ NSNN khác nhau tùy theo giai đoạn phát triển, đến nay có 2 phương thức phân bổ NSNN đang được áp dụng ở nhiều nước là: (1) Phân bổ NSNN dựa trên kết quả đầu vào và (2) Phân bổ NSNN dựa trên kết quả đầu ra.
Dù áp dụng phương thức phân bổ nào thì cũng phải đảm bảo các nguyên tắc: 7 minh bạch, công khai, hợp lý và phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế xã hội (Luật NSNN, 2002). Cơ chế phân bổ NSNN theo đầu vào chủ yếu dựa trên cơ sở tổng nguồn lực hiện có của ngân sách nhà nước. Theo đó, cơ chế quản lý, định mức chi tiêu, sử dụng ngân sách, chế độ quản lý tài chính được thiết lập để kiểm soát theo phương châm càng chặt chẽ càng tốt.2: Quy trình phân bổ ngân sách theo kết quả đầu vào Nguồn: Sử Đình Thành và Trần Thị Thanh Hương (2007) Hình 2.2 cho thấy, ngân sách lập theo quy trình từ việc tính toán các yếu tố đầu vào: các khoản mục chi (tiền lương, công cụ, hàng hóa) để hướng tới đầu ra và kết quả. Sự tính toán ngân sách chủ yếu dựa trên dự toán thực hiện của năm trước, do vậy, không biểu thị mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào với đầu ra và kết quả.
Cách thức quản lý NSNN dựa trên cơ sở nguồn lực đầu vào mang nặng tính chủ quan, duy ý chí, áp đặt từ phía các cấp được phân bổ nguồn lực. Điều đó thường dẫn đến các kết quả là: Hiệu lực quản lý thấp; Không gắn kết được kinh phí cấp ra với mục tiêu phải đạt được; Tầm nhìn ngắn hạn và thiếu chủ động; Bất cập ngay từ khâu chuẩn bị xây dựng dự toán, khi cấp dưới luôn luôn thiếu, cấp trên luôn bị áp lực về sự giới hạn của nguồn lực trong duyệt và phân bổ ngân sách cho cấp dưới; Phân bổ kinh phí mang tính cào bằng, dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả sử dụng nguồn lực thấp. Lập ngân sách theo kết quả đầu ra đi từ việc đánh giá kết quả mong muốn, kết quả đầu ra và qua đó hướng tới tính toán các yếu tố đầu vào để lập dự toán và phân bổ nguồn lực tài chính. Phân bổ NSNN theo kết quả đầu ra là phương thức phân bổ ngân sách dựa vào cơ sở tiếp cận những thông tin đầu ra để phân phối và đánh giá sử dụng nguồn lực tài chính nhằm hướng vào đạt được những mục tiêu chiến lược 8 phát triển của Chính phủ (Sử Đình Thành, 2005).
Phân bổ NSNN theo kết quả đầu ra yêu cầu các cơ quan Nhà nước và Chính phủ phải thiết lập hệ thống thông tin quản lý liên quan đến phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính như các đầu ra, các đầu vào, chi phí tài trợ và mối quan hệ giữa các đầu ra với các yếu tố đầu vào, những tác động của các yếu tố này đến kết quả mong muốn của Chính phủ và phù hợp với mục tiêu chính sách.3: Quy trình phân bổ ngân sách theo kết quả đầu ra Nguồn: Sử Đình Thành và Trần Thị Thanh Hương (2007) Đầu ra gồm hàng loạt hàng hóa, dịch vụ được Chính phủ tạo ra cung cấp cho xã hội. Đầu vào là những nguồn lực ngân sách được Chính phủ sử dụng để thực hiện các hoạt động tạo nên đầu ra bao gồm vốn; công nghệ; tài nguyên. Kết quả là các tác động, ảnh hưởng đến cộng đồng từ quá trình tạo ra một đầu ra hoặc nhóm các đầu ra. Kết quả kế hoạch (dự kiến) là mục tiêu của Chính phủ cố gắng đạt được thông qua mua các đầu ra.
Phân bổ NSNN theo kết quả đầu ra đi từ việc đánh giá kết quả mong muốn, xác định đầu ra và qua đó hướng tới tính toán các yếu tố đầu vào để lập dự toán và phân bổ nguồn lực tài chính. Theo Sử Đình Thành và Trần Thị Thanh Hương (2007), giữa phương thức phân bổ NSNN theo yếu tố đầu vào với phương thức phân bổ NSNN theo kết quả đầu ra có sự khác biệt ở 8 điểm (bảng 2.1: Sự khác nhau giữa phân bổ NSNN theo yếu tố đầu vào và kết quả đầu ra Phương thức phân bổ NSNN theo Phương thức phân bổ NSNN theo kết quả yếu tố đầu vào đầu ra 1. Ngân sách được đo lường trong 1. Ngân sách được đo lường trong giới hạn giới hạn đầu vào, tức là ngân sách các loại hàng hóa công được cung cấp, tức là được quyết định bằng tổng các yếu ngân sách được quyết định bởi giá cả được tố đầu vào được mua sắm thanh toán cho các đầu ra được cung ứng 2.
Một khi ngân sách được thiết lập 2. Sử dụng ngân sách đầu vào rất linh hoạt để thì không có sự thay đổi những nhân tạo ra các đầu ra với giá cả và chi phí hợp lý tố đầu vào 3. Tập trung vấn đề vĩ mô ngắn hạn, 3. Phát triển khuôn khổ trung hạn.
Ngân sách lập ngân sách ngắn hạn, có sự tách được lập trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa chi rời giữa chi thường xuyên và chi đầu thường xuyên và chi đầu tư trong một khuôn tư khổ chi tiêu trung hạn 4. Liên kết giữa chính sách, lập kế 4. Liên kết giữa chính sách, lập kế hoạch và hoạch và ngân sách rất yếu ngân sách rất chặt chẽ 5. Sự kiểm soát ngân sách thông qua 5.
Ngân sách được kiểm soát bằng khối đánh giá các nhân tố đầu vào được lượng thanh toán cho mỗi đầu ra phù hợp với mua sắm trong giới hạn ngân sách kế hoạch phân bổ ngân sách đã được thông qua 6. Người quản lý không có thông tin 6. Các cơ quan quản lý ngân sách được cung về kết quả đầu ra trong quá trình lập cấp thông tin đầu ra và báo cáo kết quả thực kế hoạch ngân sách tế đạt được. Chính phủ có được thông tin đầu ra của các đơn vị, cơ quan và đánh giá kết quả mong muốn 7.
Sự đánh giá chủ yếu dựa vào so 7.