MỞ ĐẦU Tỉnh Quảng Ninh là tỉnh duyên hải phía Đông Bắc, nằm trong khu vực trọng điểm phát triển kinh tế xã hội phía Bắc đất nƣớc, có nhiều tài nguyên thiên nhiên tạo nên tiềm năng phát triển kinh tế xã hội rất đa dạng. Là một địa bàn có hoạt động sản xuất công nghiệp khai thác khoáng sản đặc biệt là than đứng đầu cả nƣớc (sản lƣợng than chiếm 90% so với toàn quốc) đồng thời cũng là một địa điểm tham quan du lịch biển đảo lớn của Việt Nam và thế giới. Từ những lợi thế về điều kiện tự nhiên giàu có và phong phú, những năm qua các hoạt động sản xuất khai thác khoáng sản than diễn ra rất mạnh mẽ, sôi động, góp phần cho sự phát triển, tăng trƣởng kinh tế tƣơng đối nhanh cho tỉnh Quảng Ninh nói riêng và cả nƣớc nói chung. Tuy nhiên cũng chính lĩnh vực kinh tế này đã và đang là những nguồn gây ô nhiễm môi trƣờng lớn, có lúc, có nơi trở thành những nguồn gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng tạo ra sức ép rất lớn về môi trƣờng, đe doạ nguy hại tới sức khoẻ của nhân dân và gây ảnh hƣởng triệt tiêu các động lực phát triển kinh tế xã hội của tỉnh ngày càng rõ nét mà việc giải quyết, khắc phục không đơn giản, dễ dàng.
Trong số những ngành nghề, doanh nghiệp lớn trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, hoạt động khoáng sản (HĐKS) là một trong những lĩnh vực phát triển kinh tế quan trọng trên địa bàn tỉnh đã có truyền thống hàng trăm năm và ngày càng phát triển, đặc biệt từ ngày chuyển sang cơ chế thị trƣờng với mật độ dày đặc, chủ yếu tập trung ở Đông Triều, Uông Bí, Hạ Long, Cẩm Phả. Các hoạt động này đã và đang gây ô nhiễm môi trƣờng trầm trọng, ảnh hƣởng trực tiếp đến sức khoẻ ngƣời lao động và dân sinh (kể cả ở các vùng đô thị và nông thôn); làm suy thoái nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên (TNTN) quan trọng khác là nguồn lực cho phát triển nhƣ cảnh quan môi trƣờng (MT), tài nguyên rừng, các nguồn nƣớc, tài nguyên đất, các hệ sinh thái trên các lƣu vực và vùng cửa sông ven biển v. Để giải quyết triệt để các vấn đề MT của các khu vực có hoạt động khai thác than phải xem xét trong tổng thể của sự phát triển kinh tế xã hội theo một chƣơng trình quy hoạch phát triển thống nhất. 1 Để khắc phục ô nhiễm và giải quyết các vấn đề bức xúc trên địa bàn, tỉnh Quảng Ninh trong thời gian qua đã có những cố gắng trong tổ chức quản lý và xây dựng chƣơng trình hành động vì mục tiêu bảo vệ MT.
Bên cạnh đó, công tác bảo vệ MT trong HĐKS đã đƣợc gắn kết với công tác quản lý về tài nguyên, cũng nhƣ quản lý tốt nguồn KS với công nghệ khai thác hợp lý, công nghệ sạch nhằm giảm thiểu tổn thất than đồng thời giảm thiểu ô nhiễm MT từ nguồn phát thải trong công nghệ khai thác, sàng tuyển và vận chuyển. Tuy nhiên, những chuyển biến đó chƣa theo kịp tốc độ phát triển toàn diện về kinh tế xã hội và yêu cầu về môi trƣờng, còn nhiều khu vực vùng mỏ và các đô thị lân cận vẫn trong tình trạng ô nhiễm môi trƣờng. Trong thời gian tới, các cơ quan quản lý cần thực hiện các giải pháp quản lý Tài nguyên và môi trƣờng (TN&MT) nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nƣớc về MT hƣớng tới hoạt động KS tại Quảng Ninh phát triển bền vững [8]. Để chủ động giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trƣờng, đặc biệt là nguồn ô nhiễm bụi và nƣớc thải từ những hoạt động phát triển kinh tế xã hội nói trên, một nhiệm vụ quan trọng đặt ra đối với cơ quan quản lý là phải tiến hành nghiên cứu, đánh giá cụ thể mức ô độ ô nhiễm môi trƣờng của những nguồn ô nhiễm trong ngành than trên địa bàn TP Hạ Long, TP Cẩm Phả của tỉnh Quảng Ninh; từ đó đề ra các biện pháp xử lý thích hợp, đồng thời đề xuất các chính sách, biện pháp quản lý các loại nguồn ô nhiễm môi trƣờng này một cách có hiệu quả.
Với những lý do trên, đề tài "Đánh giá một số nguồn ô nhiễm bụi, nước thải trong ngành than trên địa bàn trọng điểm thành phố Hạ Long, thành phố Cẩm Phả của tỉnh Quảng Ninh và đề xuất các giải pháp quản lý, xử lý đến năm 2015" đã đƣợc chọn để thực hiện trong thời gian từ tháng 2 đến tháng 10/2013 nhằm nghiên cứu, đề xuất các giải pháp quản lý áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nƣớc phục vụ cho chiến lƣợc bảo vệ MT và phát triển bền vững cho hoạt động sản xuất than trên địa bàn TP Hạ Long, TP Cẩm Phả của tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới. Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài luận văn Làm rõ các nhóm nguồn ô nhiễm trong ngành than trên địa bàn thành phố Hạ Long và thành phố Cẩm Phả là những nguồn nào? Thực tiễn và hiện trạng phân loại quản lý, xử lý, quản lý nguồn ô nhiễm môi trƣờng trên địa bàn TP Hạ Long và TP Cẩm Phả nhƣ thế nào? Đề xuất các giải pháp quản lý bảo vệ môi trƣờng các nhóm nguồn gây ô nhiễm môi trƣờng trên địa bàn TP Hạ Long và Cẩm Phả của tỉnh Quảng Ninh đến năm 2015. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung: Nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ, khách quan và khoa học về một số nguồn ô nhiễm môi trƣờng trong ngành than trên địa bàn TP Hạ Long và TP Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh; Mục tiêu cụ thể: Đề xuất các giải pháp quản lý bảo vệ môi trƣờng các nhóm nguồn gây ô nhiễm môi trƣờng đó nhằm góp phần cải thiện môi trƣờng TP Hạ Long và TP Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh theo hƣớng phát triển bền vững đến 2015. 3 Chƣơng I TỔNG QUAN VỀ NGÀNH THAN VÀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƢỜNG CỦA CÁC HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀNH THAN 1.
Cơ sở lý luận về bụi và nƣớc thải trong ngành than 1. Khái niệm, phân loại, tác hại về bụi a. Khái niệm Bụi là tập hợp nhiều hạt có kích thƣớc lớn nhỏ khác nhau tồn tại lâu trong không khí dƣới dạng: + Bụi bay: khi những hạt bụi lơ lửng trong không khí (gọi là aerozon) + Bụi lắng: khi chúng đọng lại trên bề mặt vật thể (gọi là aerogen) + Các hệ khí dung nhiều pha gồm hơi, khói, mù. Các loại bụi nói chung thƣờng có kích thƣớc trong không khí từ 0,001 – 10μm bao gồm tro, muội, khói và những hạt chất rắn tồn tại dƣới dạng hạt rất nhỏ, chuyển động theo kiểu Brown hoặc rơi xuống đất theo định luật Stock.
Phân loại Trong khoa học ngƣời ta thƣờng phân loại bụi theo 2 cách: - Bụi có thể có nguồn gốc hữu cơ hoặc vô cơ: + Bụi hữu cơ: nhƣ bụi thực vật (gỗ, bông), bụi động vật (len, lông, tóc), bụi nhân tạo (nhựa hóa học, cao du). + Bụi vô cơ: nhƣ bụi khoáng chất (amiang,than), bụi kim loại (sắt, đồng.) - Theo kích thƣớc: + Bụi nhỏ hơn 0,1μm lơ lửng trong không khí, không ở lại phế nang. + Bụi từ 0,1 - 5μm ở lại phổi, chiếm tới 80 -90% + Bụi 5-10μm vào phổi nhƣng lại đƣợc đào thải ra. + Bụi lớn hơn 10μm thƣờng đọng lại ở mũi.
Tác hại của bụi * Đối với cơ thể sống - Bụi gây nhiễm độc chung: bụi chì, thủy ngân. - Bụi gây dị ứng, viêm mũi, hen, nổi ban: bụi bông, gai, sợi hóa học. 4 - Bụi gây ung thƣ: bụi quặng và các chất phóng xạ. - Bụi gây nhiễm trùng: lông, xƣơng, tóc.
- Bụi gây xơ hóa phổi: bụi than, amiang. * Đối với thực vật Sự tích tụ bụi trên lá cây làm giảm khả năng quang hợp, bụi chứa các độc tố gây ảnh hƣởng đến sự phát triển của cây. * Đối với các công trình vật liệu, máy móc Do bụi chứa các chất hóa học, khi bám vào bề mặt của vật liệu sẽ gây các phản ứng hóa học làm xuống cấp chất lƣợng các công trình máy móc. Khái niệm và tác hại của nước thải mỏ 1.
Khái niệm Nƣớc thải mỏ là nƣớc thải đƣợc thải ra trong quá trình sản xuất của ngành than, có thể là từ công đoạn sàng tuyển, chế biến than, hay do nƣớc mƣa chảy từ các khai trƣờng có chứa bụi bẩn, than… 1. Tác động đến môi trường nước - Nƣớc từ khai trƣờng chảy ra có độ đục lớn và có chứa các thành phần độc hại nhƣ kim loại nặng, nồng độ BOD, COD cao. - Nƣớc mƣa chảy qua các mặt bằng cửa lò và đất đá thải, bãi chứa than sẽ hòa tan các thành phần khoáng chất có trong đất, làm tăng độ đục, gây ô nhiễm nguồn nƣớc. - Nƣớc thải trong quá trình sàng tuyển, chế biến than nếu không đƣợc xử lý triệt để sẽ gây ảnh hƣởng lớn đến môi trƣờng.
- Ngoài ra một lƣợng không nhỏ nƣớc thải từ quá trình sinh hoạt của cán bộ công nhân viên sinh hoạt trong nhà máy, xí nghiệp. Hiện trạng về tình hình sản xuất trên thế giới và ở Việt Nam 1. Sản xuất than trên thế giới Than đá là nguồn năng lƣợng chủ yếu của loài ngƣời với tổng trữ lƣợng trên 700 tỷ tấn, có khả năng đáp ứng nhu cầu con ngƣời khoảng 180 năm. Có thể coi than là một ngành công nghiệp mang tính toàn cầu, lƣợng than thƣơng mại đƣợc 5 khai thác tại hơn 50 quốc gia và tiêu thụ tại trên 70 quốc gia trên toàn thế giới, toàn thế giới hiện tiêu thụ khoảng 4 tỷ tấn than mỗi năm.
Sản lƣợng khai thác than tăng nhanh nhất ở châu Á, trong khi đó châu Âu khai thác với tốc độ giảm dần. Các nƣớc khai thác nhiều nhất không tập trung trên một châu lục mà nằm rải rác trên thế giới, các nƣớc khai thác lớn nhất hiện nay là: Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Australia, Cộng hoà Liên bang Đức và Nam Phi. Hầu hết các nƣớc khai thác than cho nhu cầu tiêu dùng nội địa, chỉ có khoảng 18% than giành cho thị trƣờng xuất khẩu. Lƣợng than khai thác đƣợc dự báo tới năm 2030 vào khoảng 7 tỷ tấn, trong đó Trung Quốc chiếm khoảng hơn một nửa sản lƣợng.
Than đóng vai trò sống còn với sản xuất điện và vai trò này sẽ còn đƣợc duy trì trong tƣơng lai. Khoảng 39% lƣợng điện sản xuất ra trên toàn thế giới là từ nguồn nguyên liệu này và tỷ lệ này sẽ vẫn đƣợc duy trì trong tƣơng lai (dự báo cho đến năm 2030). Lƣợng tiêu thụ than cũng đƣợc dự báo sẽ tăng ở mức từ 0.5% từ nay cho đến năm 2030. Tiêu thụ về than cho nhu cầu trong các lò hơi sẽ tăng khoảng 1.