Đánh Giá Thực Trạng Quan Trắc Ô Nhiễm Sông Hồng Đoạn Chảy Qua Tỉnh Lào Cai

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đánh giá thực trạng quan trắc cảnh báo ô nhiễm sông hồng đoạn chảy qua địa phận tỉnh lào cai, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2016

92
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUAN TRẮC CẢNH BÁO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC SÔNG

1.1. Cơ sở lý luận về quan trắc cảnh báo ô nhiễm môi trường

1.1.1. Khái niệm chung

1.1.2. Mục tiêu quan trắc cảnh báo ô nhiễm môi trường

1.1.3. Nguyên lý quan trắc và cảnh báo ô nhiễm môi trường

1.1.4. Đặc điểm các loại trạm quan trắc

1.1.5. Phương pháp quan trắc và phân tích môi trường

1.1.6. Quan trắc cảnh báo ô nhiễm xuyên biên giới qua các dòng sông

1.1.7. Cơ sở pháp lý của quan trắc cảnh báo ô nhiễm môi trường nước tại Việt Nam

1.2. Hiện trạng quan trắc cảnh báo ô nhiễm môi trường nước sông trên thế giới và Việt Nam

1.2.1. Một số chương trình quan trắc cảnh báo ô nhiễm môi trường nước sông hồ trên thế giới

1.2.2. Một số chương trình quan trắc cảnh báo ô nhiễm môi trường nước sông hồ ở Việt Nam

1.3. Quan trắc cảnh báo ô nhiễm xuyên biên giới đối với sông Hồng

1.3.1. Khái quát về lưu vực sông Hồng đoạn chảy qua lãnh thổ Việt Nam

1.3.2. Ô nhiễm và suy thoái nguồn nước sông Hồng

1.3.3. Quan trắc cảnh báo ô nhiễm xuyên biên giới đối với sông Hồng

2. CHƯƠNG 2: ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm nghiên cứu

2.2. Thời gian và đối tượng nghiên cứu

2.3. Phương pháp tiếp cận

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu và tài liệu thứ cấp

2.4.2. Phương pháp quan trắc và phân tích môi trường

2.4.3. Phương pháp thu thập số liệu từ thực địa

2.4.4. Phương pháp xây dựng bản đồ

2.4.5. Phương pháp xử lý số liệu

2.4.6. Phương pháp tổng hợp và so sánh để đánh giá hiện trạng

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Diễn biến chất lượng nước sông Hồng giai đoạn 2011 – 2015

3.1.1. Diễn biến chất lượng nước sông Hồng đoạn chảy qua địa phận tỉnh Lào Cai, mùa mưa giai đoạn 2011 - 2015

3.1.2. Diễn biến chất lượng nước sông Hồng đoạn chảy qua địa phận tỉnh Lào Cai, mùa khô giai đoạn 2011 - 2015

3.1.3. Diễn biến chất lượng nước sông Hồng đoạn chảy qua địa phận tỉnh Lào Cai giữa các điểm quan trắc khác nhau, theo hướng từ thượng nguồn về hạ lưu

3.2. Nguyên nhân làm thay đổi chất lượng nước sông Hồng đoạn chảy qua địa phận tỉnh Lào Cai

3.3. Hiện trạng mạng lưới quan trắc cảnh báo ô nhiễm môi trường nước sông Hồng đoạn chảy qua địa phận tỉnh Lào Cai

3.3.1. Hệ thống quản lý nhà nước về quan trắc cảnh báo ô nhiễm môi trường nước sông Hồng đoạn chảy qua địa phận tỉnh Lào Cai

3.3.2. Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ hoạt động quan trắc cảnh báo ô nhiễm môi trường nước sông Hồng đoạn chảy qua địa phận tỉnh Lào Cai

3.3.3. Mạng lưới quan trắc cảnh báo ô nhiễm môi trường nước sông Hồng đoạn chảy qua địa phận tỉnh Lào Cai tính đến 2015

3.3.4. Khó khăn, tồn tại và nguyên nhân

3.4. Đề xuất giải pháp

3.4.1. Giải pháp về tăng cường công tác quản lý

3.4.2. Giải pháp về cơ chế, chính sách

3.4.3. Giải pháp về kinh tế

3.4.4. Giải pháp về kỹ thuật

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đánh Giá Ô Nhiễm Sông Hồng Tại Lào Cai

Sông Hồng là một trong những hệ thống sông lớn nhất miền Bắc Việt Nam, có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm sông Hồng tại Lào Cai đang trở thành vấn đề nghiêm trọng. Việc đánh giá chất lượng nước sông Hồng không chỉ giúp nhận diện các nguyên nhân ô nhiễm mà còn đưa ra các giải pháp hiệu quả nhằm bảo vệ môi trường. Theo nghiên cứu của Đặng Vũ Hiệp (2016), chất lượng nước sông Hồng đã có sự suy giảm đáng kể trong những năm qua, ảnh hưởng đến đời sống và sức khỏe của người dân.

1.1. Khái Niệm Về Ô Nhiễm Sông Hồng

Ô nhiễm sông Hồng được hiểu là sự hiện diện của các chất độc hại trong nước, làm giảm chất lượng nước và ảnh hưởng đến hệ sinh thái. Các yếu tố như chất thải công nghiệp, sinh hoạt và nông nghiệp là những nguyên nhân chính gây ra tình trạng này.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Việc Đánh Giá Ô Nhiễm

Đánh giá ô nhiễm sông Hồng giúp xác định mức độ ô nhiễm, từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục kịp thời. Việc này không chỉ bảo vệ sức khỏe cộng đồng mà còn đảm bảo sự phát triển bền vững cho khu vực.

II. Nguyên Nhân Ô Nhiễm Sông Hồng Tại Lào Cai

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm sông Hồng tại Lào Cai. Trong đó, các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt của người dân là những yếu tố chính. Theo nghiên cứu, việc xả thải không qua xử lý từ các nhà máy và khu dân cư đã làm gia tăng đáng kể nồng độ các chất ô nhiễm trong nước. Ngoài ra, sự phát triển đô thị hóa cũng góp phần làm suy giảm chất lượng nước.

2.1. Tác Động Của Hoạt Động Công Nghiệp

Các nhà máy sản xuất xả thải trực tiếp vào sông mà không qua xử lý, dẫn đến ô nhiễm nặng nề. Chất thải từ các ngành công nghiệp như dệt nhuộm, chế biến thực phẩm là những nguồn ô nhiễm chính.

2.2. Ô Nhiễm Từ Nông Nghiệp

Việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu không hợp lý trong nông nghiệp cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm. Các chất hóa học này theo dòng chảy vào sông, làm tăng nồng độ độc hại trong nước.

2.3. Tác Động Từ Hoạt Động Sinh Hoạt Của Người Dân

Nước thải sinh hoạt không được xử lý trước khi xả ra sông cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm. Điều này đòi hỏi cần có các biện pháp quản lý hiệu quả hơn.

III. Phương Pháp Đánh Giá Chất Lượng Nước Sông Hồng

Để đánh giá chất lượng nước sông Hồng, cần áp dụng các phương pháp quan trắc và phân tích hiện đại. Việc này bao gồm việc thu thập mẫu nước tại các điểm khác nhau và phân tích các chỉ tiêu hóa lý, sinh học. Các phương pháp này giúp cung cấp thông tin chính xác về tình trạng ô nhiễm và xu hướng biến đổi chất lượng nước.

3.1. Phương Pháp Quan Trắc Nước

Quan trắc nước sông Hồng được thực hiện định kỳ tại các điểm quan trắc đã được xác định. Các chỉ tiêu như pH, độ đục, nồng độ oxy hòa tan được đo lường để đánh giá chất lượng nước.

3.2. Phân Tích Hóa Học Và Sinh Học

Các mẫu nước sau khi thu thập sẽ được đưa về phòng thí nghiệm để phân tích các chỉ tiêu hóa học như COD, BOD, và các chỉ số sinh học khác. Điều này giúp xác định mức độ ô nhiễm và khả năng tự làm sạch của sông.

IV. Giải Pháp Cải Thiện Chất Lượng Nước Sông Hồng

Để cải thiện chất lượng nước sông Hồng, cần có các giải pháp đồng bộ từ quản lý, công nghệ đến giáo dục cộng đồng. Các biện pháp như xử lý nước thải, nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường là rất cần thiết. Chính phủ cũng cần có các chính sách hỗ trợ cho việc đầu tư vào công nghệ xử lý nước.

4.1. Xử Lý Nước Thải

Cần xây dựng các nhà máy xử lý nước thải tại các khu vực có nguồn ô nhiễm cao. Việc này sẽ giúp giảm thiểu lượng chất ô nhiễm xả ra sông Hồng.

4.2. Nâng Cao Nhận Thức Cộng Đồng

Tổ chức các chương trình giáo dục về bảo vệ môi trường cho người dân. Điều này sẽ giúp nâng cao ý thức của cộng đồng trong việc bảo vệ nguồn nước.

4.3. Chính Sách Hỗ Trợ Từ Chính Phủ

Chính phủ cần có các chính sách khuyến khích đầu tư vào công nghệ xử lý nước và bảo vệ môi trường. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và cộng đồng.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu

Kết quả nghiên cứu về chất lượng nước sông Hồng tại Lào Cai đã chỉ ra rằng, việc áp dụng các biện pháp quản lý và công nghệ hiện đại có thể cải thiện đáng kể chất lượng nước. Các chương trình quan trắc và xử lý nước thải đã cho thấy hiệu quả tích cực trong việc giảm ô nhiễm. Tuy nhiên, cần tiếp tục theo dõi và đánh giá để đảm bảo sự bền vững.

5.1. Kết Quả Quan Trắc Chất Lượng Nước

Các số liệu từ các trạm quan trắc cho thấy nồng độ các chất ô nhiễm đã giảm đáng kể sau khi áp dụng các biện pháp xử lý. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc duy trì các chương trình quan trắc.

5.2. Ứng Dụng Công Nghệ Mới

Việc áp dụng công nghệ mới trong xử lý nước thải đã giúp nâng cao hiệu quả xử lý. Các công nghệ như lọc sinh học, xử lý hóa lý đang được khuyến khích áp dụng.

VI. Kết Luận Và Tương Lai Của Ô Nhiễm Sông Hồng

Ô nhiễm sông Hồng tại Lào Cai là một vấn đề nghiêm trọng cần được giải quyết. Các biện pháp đã được đề xuất trong nghiên cứu này sẽ góp phần cải thiện chất lượng nước và bảo vệ môi trường. Tương lai của sông Hồng phụ thuộc vào sự hợp tác giữa các cơ quan chức năng, cộng đồng và doanh nghiệp trong việc bảo vệ nguồn nước.

6.1. Tầm Quan Trọng Của Bảo Vệ Môi Trường

Bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của chính phủ mà còn là của mỗi cá nhân. Mỗi hành động nhỏ đều có thể góp phần vào việc bảo vệ nguồn nước.

6.2. Hướng Đi Tương Lai

Cần tiếp tục nghiên cứu và áp dụng các giải pháp mới để bảo vệ sông Hồng. Việc này không chỉ giúp cải thiện chất lượng nước mà còn đảm bảo sự phát triển bền vững cho khu vực.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống, quyết định sự tồn tại và phát triển của đất nước. Mặt khác, nước cũng có thể gây tai họa cho con người và môi trường. Việt Nam là quốc gia có hệ thống sông ngòi dày đặc với tổng lượng dòng chảy nước mặt hàng năm lên đến 830 – 840 tỷ m3. Tuy nhiên, Việt Nam không phải là quốc gia giàu về nước.

Tài nguyên nước của nước ta phụ thuộc nhiều vào các nước có chung nguồn nước phía thượng lưu, với gần 2/3 tổng lượng nước mặt hàng năm là từ ngoài biên giới chảy vào. Chất lượng nước mặt của Việt Nam đang có chiều hướng ngày càng bị suy thoái, ô nhiễm, cạn kiệt bởi nhiều nguyên nhân. Trong đó, sự gia tăng dân số, gia tăng nhu cầu về nước do gia tăng chất lượng cuộc sống, đô thị hoá cũng như quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước kém hiệu quả, thiếu bền vững đang là mối đe doa an ninh nguồn nước và có nguy cơ sẽ kéo theo nhiều hệ luỵ khó lường [11]. Sông Hồng là hệ thống sông lớn nhất miền Bắc, được bắt nguồn từ Trung Quốc, sông chảy về Việt Nam qua ngã ba biên giới giữa sông Hồng và suối Lũng Pô, xã Á Mú Sung, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.

Đây là điểm đầu tiên của nước ta tiếp nhận nguồn nước từ dòng sông Hồng. Tổng chiều dài sông Hồng – đoạn chảy qua Việt Nam dài 510 km, đóng vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Tuy nhiên, từ năm 2011 đến nay, chất lượng nước sông Hồng đoạn chảy qua địa phận tỉnh Lào Cai có diễn biến phức tạp cả về lưu lượng và chất lượng. Kết quả quan trắc về mực nước tại Trạm Thủy văn Lào Cai cũng cho thấy, nhiều thời điểm mực nước sông Hồng xuống rất thấp so với cùng thời điểm các năm trước (thấp nhất xảy ra vào đầu tháng 3 năm 2012 ở mức 75,65m) kèm theo nước sông có mùi tanh, hôi, độ đục tăng; nhưng đôi lúc lưu lượng dòng chảy tăng mực nước lại dâng bất thường.

Chất lượng nước sông Hồng suy giảm ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lào Cai nói riêng, của cả nước nói chung và đặc biệt là an ninh quốc gia trong trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa [9, 21]. 1 Kiểm soát ô nhiễm thông qua hệ thống quan trắc đang là một trong những hướng đi đem lại hiệu quả cao, thiết thực, được Nhà nước chú trọng đầu tư. Ngày 29/01/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 16/2007/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia đến năm 2020. Trong đó đặc biệt chú trọng đến ô nhiễm nước xuyên biên giới, điển hình là sông Hồng [14].

Với mục tiêu cung cấp một cách nhìn tổng quan về chất lượng nước mặt, đánh giá các nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm và hiện trạng hệ thống quan trắc cảnh báo ô nhiễm nước sông Hồng đoạn chảy qua địa phận tỉnh Lào Cai, từ đó làm căn cứ tin cậy cho việc khoanh vùng nhạy cảm, vùng ô nhiễm và đề xuất được các giải pháp hiệu quả trong quản lý môi trường. Tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng quan trắc cảnh báo ô nhiễm sông Hồng đoạn chảy qua địa phận tỉnh Lào Cai”. TỔNG QUAN VỀ QUAN TRẮC CẢNH BÁO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC SÔNG 1. Cơ sở lý luận về quan trắc cảnh báo ô nhiễm môi trường 1.

Khái niệm chung a. Quan trắc môi trường: Là quá trình đo đạc thường xuyên một hoặc nhiều chỉ tiêu về tính chất vật lý, hoá học và sinh học của môi trường, theo một kế hoạch lập sẵn về thời gian, không gian, phương pháp và quy trình đo lường, để cung cấp các thông tin cơ bản có đô ̣ tin cậy, độ chính xác cao và có thể đánh giá đựơc diễn biến chất lựơng môi trường nước [12]. Kế hoạch quan trắc môi trường: Kế hoạch quan trắc môi trường là một chương trình quan trắc được lập ra nhằm đáp ứng một số mục tiêu nhất định, trong đó bao gồm những yêu cầu về thông tin, các thông số, các địa điểm, tần suất và thời gian quan trắc, các yêu cầu về trang thiết bi,̣ phương pháp phân tích, đo, thử; yêu cầu về nhân lực và kinh phí thực hiện [12, 20]. Mục tiêu quan trắc cảnh báo ô nhiễm môi trường Nhằm đánh giá chất lượng các thành phần môi trường, xem xét mức độ ô nhiễm, khả năng sử dụng các thành phần môi trường và thu thập số liệu phục vụ quản lý môi trường nước nói.

Từ đó đưa ra các cảnh báo sớm, ứng phó và xử lý kịp thời với các biểu hiện bất thường của môi trường, nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ môi trường từ Trung ương đến địa phương [20]. Nguyên lý quan trắc và cảnh báo ô nhiễm môi trường Dựa trên quá trình đo đạc thường xuyên, đo đạc tự động (theo giờ, ngày) một hoặc nhiều chỉ tiêu về tính chất vật lý, hóa học và sinh học của các thành phần môi trường, theo một kế hoạch lập sẵn về thời gian, không gian, phương pháp và quy trình đo lường để cung cấp các thông tin cơ bản có độ tin cậy, độ chính xác cao nhằm đánh giá được diễn biến chất lượng môi trường [20]. Đặc điểm các loại trạm quan trắc Hiện nay trên thế giới và tại Việt Nam phổ biến bốn loại trạm quan trắc môi trường bao gồm [11]: a. Các trạm biên: đặt tại vùng biên giới (đối với các sông quốc tế) hay ranh giới địa phận giữa các tỉnh.

Các trạm cơ sở: đặt tại khu vực không bị ảnh hưởng trực tiếp của các 3 nguồn ô nhiễm. Các trạm tác động: đặt tại khu vực bị tác động của con người hay khu vực có nhu cầu nước riêng biệt. Các trạm xu hướng: Đặc biệt đại diện cho vùng rộng có nhiều loại hình hoạt động của con người. Phương pháp quan trắc và phân tích môi trường Quan trắc môi trường nước được thực hiện thông qua các chương trình quan trắc môi trường.

Một trong các vấn đề rất cơ bản của quan trắc chất lượng môi trường nước là thiết kế chương trình quan trắc theo các mục tiêu đã đề ra. Vì vậy, điều quan trọng nhất trong thiết kế chương trình quan trắc là phải thiết lập được mục tiêu quan trắc. Đây là bước cần thiết để quy định loại thông tin mà chương trình quan trắc phải cung cấp và quyết định dạng quan trắc. Các bước chủ yếu trong quan trắc và quản lý môi trường được thể hiện trong hình dưới đây: [5].

Quản lý môi trường Nhu cầu thông tin Sử dụng thông tin Chương trình quan trắc Báo cáo Thiết kế mạng lưới Phân tích số liệu Lấy mẫu và phân tích tại hiện Sử dụng số liệu trường Phân tích trong phòng thí nghiệm Hình 1. Các bước chủ yếu trong quan trắc và quản lý môi trường 4 1. Quan trắc cảnh báo ô nhiễm xuyên biên giới qua các dòng sông Hiện nay, hiện tượng ô nhiễm môi trường xuyên biên giới đang trở thành vấn đề có tính chất quốc tế. Kết quả điều tra cho thấy, ô nhiễm nguồn các hệ thống sông xuyên biên giới đang là vấn đề nhức nhối nhất hiện nay.

Việt Nam có trên 200 sông, suối có mối quan hệ nguồn nước với các nước láng giềng. Tổng chiều dài các đoạn sông, suối chảy dọc đường biên giới nước ta với 3 quốc gia Trung Quốc, Lào, Camphuchia trên khoảng 1. Hàng năm, các sông, suối xuyên biên giới chuyển vào nước ta lượng nước khoảng trên 500 tỷ m3, bằng khoảng 60% tổng lượng nước trung bình hàng năm của hệ thống sông cả nước ta. Trong đó, lớn nhất là sông Cửu Long, trên 400 tỷ m3, chiếm khoảng 84% tổng lượng nước chảy xuyên biên giới vào nước ta; Sông Hồng khoảng 50 tỷ m3, bằng khoảng 10%; sông Mã khoảng 8 tỷ m3 (gồm 7 tỷ m3 qua sông Mã ở Thanh Hóa và 1 tỷ m3 qua sông Chu); sông Cả khoảng 4 tỷ m3; sông Đồng Nai khoảng 3,5 tỷ m3; sông Bằng Giang - Kỳ Cùng chảy vào nước ta khoảng 1,7 tỷ m3 trước khi chảy sang Trung Quốc,.

Đồng thời, hệ thống sông ở nước ta cũng vận chuyển khoảng 43 tỷ m3 từ nước ta qua biên giới sang các nước Trung Quốc, Lào và Campuchia. Các sông Bằng Giang - Kỳ Cùng và Quay Sơn (ở Cao Bằng, Lạng Sơn) hàng năm vận chuyển khoảng 9 tỷ m3 qua biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Các sông thuộc hệ thống sông Mê Kông chuyển gần 29 tỷ m3 hàng năm qua biên giới với Lào và Campuchia sau đó lại quay trở lại nước ta ở sông Tiền và sông Hậu (Sông Nậm Rốm, khoảng 1,6 tỷ m3, sông Sê San khoảng 13 tỷ m3, sông Sêrêpốk gần 14 tỷ m3); Sông Mã vận chuyển khoảng 4 tỷ m3 nước từ nước ta qua biên giới ở Sơn La sang Lào trước khi lại chảy vào ở Thanh Hoá [3]. Phần lớn các hệ thống sông lớn của Việt Nam đều liên quan đến sông nước ngoài.

Theo số liệu thông kê sơ bộ, nước ta có trên 200 sông, suối lớn, nhỏ có mối quan hệ nguồn nước với các nước láng giềng, bằng khoảng 8% số lượng sông, suối của cả nước. Các sông suối này phân bố trải dài dọc biên giới từ Quảng Ninh đến Kiên Giang, thuộc địa bàn toàn bộ 25 tỉnh biên giới. Trong số đó: có 126 sông, suối chảy từ nước ngoài vào nước ta; 76 sông, suối chảy từ nước ta ra nước ngoài và 4 sông chảy từ nước ngoài vào nước ta sau đó lại chảy sang phía bạn hoặc ngược lại; có 132 sông, suối chảy cắt xuyên đường biên giới và 74 sông, suối chảy dọc biên giới trước khi chảy vào nước ta hoặc sang nước láng giềng. Tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc có 68 sông; tuyến biên giới Việt Nam- Lào có 85 sông và tuyến 5 biên giới Việt Nam-Campuchia có 53 sông.

Trong tổng số sông, suối xuyên biên giới nêu trên có 89 sông, suối, kênh rạch thuộc nhóm sông, suối có dòng chảy liên tục và chiều dài từ 10km trở lên [3]. Thực tế cho thấy Việt Nam không còn được coi là phong phú về tài nguyên nước. Nguy cơ khan hiếm, thiếu nước, căng thẳng về nước trong tương lai đã biểu hiện rõ ràng trên nhiều vùng, lưu vực sông. Tuy nhiên, hiện công tác đo địa hình, thủy văn trên các sông biên giới triển khai còn hết sức hạn chế; chưa có thông tin, số liệu về tình hình khai thác, sử dụng nước trên phần lưu vực thuộc phía Lào, Trung Quốc, Campuchia.

Tới đây, cần tăng cường quản lý, giám sát hiệu quả các nguồn nước sông.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ