MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Vịnh Hạ Long – di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO 2 lần công nhận vào các năm 1994 và 2000 ; Là một trong 2 vịnh biển đẹp nhất Việt Nam bên cạnh vịnh Nha Trang, vịnh Hạ Long là nơi thường xuyên đón tiếp các tàu du lịch quốc tế chọn làm điểm dừng tham quan. Môi trường vịnh Hạ Long hiện nay đang bị đe dọa từ các hoạt động khai thác than như xuất than và vận chuyển than, lấn biển làm khu đô thị, nuôi trồng thủy hải sản. ngày càng diễn ra với chiều hướng gia tăng.
Vì vậy công tác bảo vệ môi trường đang rất cần được quan tâm [1]. Tại các cảng than, nhiều tàu trọng tải lớn đến nhận than không vào cảng được phải dùng biện pháp chuyển tải nên lượng than rơi vãi xuống vịnh Hạ Long khá nhiều. Đáng chú ý là tình trạng ô nhiễm dầu có xu hướng phức tạp hơn do các nguồn phát thải trên bờ cũng như trên biển không được kiểm soát, số lượng tàu thuyền gắn máy nhỏ dùng các động cơ cũ, lạc hậu tăng nhanh, dẫn đến khả năng thải dầu vào môi trường biển cũng nhiều hơn. Theo Báo cáo về hiện trạng ô nhiễm các vùng ven biển, vịnh Hạ Long cũng bị đánh giá là nơi có mức độ ô nhiễm dầu nặng "không ai bằng", đặc biệt là vùng nước cảng Cái Lân.
Theo bản báo cáo này, tại vùng nước cảng Cái Lân có thời điểm hàm lượng dầu trong nước biển đạt tới 1,75mg/l, cao gấp 6 lần TCVN và gấp hàng chục lần tiêu chuẩn ASEAN, có đến 1/3 diện tích mặt vịnh thường xuyên có hàm lượng dầu khoảng 1,0 - 1,73 mg/l. Hàm lượng dầu trong trầm tích ven bờ hai bên Cửa Lục đạt mức cao nhất là 752,85mg/kg [36]. Ngay cả bằng mắt thường, có thể nhận thấy tại các cảng tàu du lịch và các cảng xuất than tại khu vực ven biển Vịnh Hạ Long… đều thường xuyên có váng dầu loang rộng trên mặt biển. Theo kết quả điều tra của chuyên đề "Đánh giá dự báo tải lượng ô nhiễm đưa vào Vịnh Hạ Long - Bái Tử Long" năm 2009 do Viện Tài nguyên và Môi trường Biển thực hiện cho thấy, việc quản lý, kiểm soát các nguồn ô nhiễm (đặc biệt là ngành than) chưa hiệu quả.
Hầu hết các nguồn ô nhiễm chưa được xử lý khi thải ra 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com môi trường. Các chất ô nhiễm vào Vịnh Hạ Long - Bái Tử Long thường theo hai đường chính là do rửa trôi các nguồn ô nhiễm trên đất liền qua hệ thống sông, suối, lạch, triều đưa ra Vịnh và đổ trực tiếp từ nguồn nước sinh hoạt của dân cư ven biển, khách du lịch, nuôi trồng thủy sản, vận chuyển than. Cũng theo số liệu quan trắc của báo cáo trên, với tốc độ xả thải như hiện nay, mỗi năm Vịnh Hạ Long - Bái Tử Long phải hứng chịu khoảng 43 nghìn tấn COD và 9 nghìn tấn BOD (chất hữu cơ lơ lửng) đổ vào vịnh. Khoảng 5,6 nghìn tấn Nitơ - tổng số (N –T) và gần 2 nghìn tấn Phốt pho tổng số (P – T).
Đặc biệt, có khoảng 135 nghìn tấn kim loại nặng và khoảng 777,5 nghìn tấn TSS (chất rắn lơ lửng) hàng năm từ nguồn thải ven biển đổ vào Vịnh, là mối đe dọa lớn tới môi trường vùng Vịnh Hạ Long [13]. Kết quả điều tra trong nhiều năm cho thấy, hàm lượng ô nhiễm kim loại nặng đưa vào Vịnh chủ yếu từ hoạt động khai thác than ở Cẩm Phả (chiếm tới 70% tổng lượng vào) và thành phố Hạ Long. Còn các chất hữu cơ và dinh dưỡng đưa vào vùng Vịnh có xuất phát điểm từ khu vực thành phố Hạ Long là nhiều nhất (khoảng 30 - 60%), tiếp theo là Hoành Bồ, Cẩm Phả và Vân Đồn [20]. Hiện nay cụm cảng Nam Cầu Trắng thuộc phường Hồng Hà – thành phố Hạ Long là khu vực thường xuyên có các hoạt động bốc xúc vận chuyển than trên tuyến luồng ngoài vịnh và có khả năng gây ô nhiễm tới môi trường vịnh Hạ Long là rất cao.
Cơ quan chủ quản của cụm cảng hiện nay cũng đã có chương trình quan trắc định kỳ 1 năm 02 lần nhưng số lượng điểm quan trắc ít và chưa có được những đánh giá về nguy cơ ô nhiễm từ hoạt động vận chuyển than tới vùng Vịnh. Từ các vấn đề cấp thiết nêu trên, đề tài: “Đánh giá thực trạng ô nhiễm kim loại nặng và dầu mỡ trong nước biển ven bờ tại cụm cảng xuất than Nam Cầu Trắng - Thành phố Hạ Long và đề xuất giải pháp giảm thiểu” được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng môi trường, cung cấp một số thông tin về hiện trạng ô nhiễm KLN và dầu mỡ cho các cơ quan quản lý làm cơ sở đánh giá, quản lý và kiểm soát môi trường khu vực. Lịch sử nghiên cứu Tính đến thời điểm năm 2018 vẫn chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về việc đánh giá thực trạng ô nhiễm kim loại nặng và dầu mỡ trong môi trường 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nước và trầm tích tại các cảng xuất than ven bờ Vịnh Hạ Long, đặc biệt là khu cụm cảng Nam Cầu Trắng của Công ty Kho vận Hòn gai – Vinacomin. Mục đích nghiên cứu của luận văn Đánh giá được những nguy cơ, hiện trạng ô nhiễm của kim loại nặng (KLN) và dầu mỡ trong nước biển tại cụm cảng Nam Cầu Trắng dưới tác động của hoạt động vận chuyển than, từ đó đề ra các giải pháp quản lý và khắc phục, giảm thiểu ô nhiễm.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu + Đối tƣợng nghiên cứu: Gồm nồng độ của các chỉ tiêu nghiên cứu trong nước biển và trong trầm tích và mối tương quan giữa chúng. Chỉ tiêu dầu mỡ trong các nghiên cứu ở đây là : Chỉ tiêu dầu mỡ khoáng Các kim loại nặng nghiên cứu ở đây là 04 kim loại nặng : As, Hg, Pb, Cd + Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn về không gian: Trên diện tích khoảng 1,5 km2 gồm: Diện tích mặt nước trong hoạt động lưu thông của các phương tiện thuỷ tại khu vực cụm cảng NCT và vùng nước ven bờ Vịnh Hạ Long trên tuyến luồng vận chuyển. Giới hạn về thời gian: Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 9 năm 2018 đến tháng 2 năm 2019. Thời gian lấy mẫu phân tích được lấy vào tháng 09/2018 và tháng 02/2019 để đại diện vào 2 mùa, mùa mưa và mùa khô trên khu vực nghiên cứu.
Các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả Các kết quả nghiên cứu của luận văn nhằm đưa ra được các đánh giá mới nhất về hiện trạng và nguy cơ ô nhiễm tới môi trường nước biển và trầm tích ven bờ Vịnh Hạ Long do hoạt động xuất nhập than của các cảng than tại cụm cảng Nam Cầu Trắng. Các giải pháp về phương diện quản lý đưa ra trong luận văn với mong muốn được các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường của địa phương áp dụng và triển khai. Hy vọng đóng góp được một phần nào đó cho sự ổn định về mặt môi trường và cho sự phát triển bền vững của môi trường biển tại vịnh Hạ Long. Các phƣơng pháp nghiên cứu Các phương pháp nghiên cứu trong luận văn bao gồm các phương pháp như sau: 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp từ những nguồn thông tin tin cậy: + Phương pháp thu thập mẫu tại vùng nghiên cứu:Theo các Tiêu chuẩn Quy chuẩn Việt Nam hiện hành + Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm: + Phương pháp phân tích tương quan về mối quan hệ giữa các biến số: + Phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp xử lý số liệu dữ liệu: 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 : TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về ô nhiễm môi trƣờng biển ven bờ 1. Ô nhiễm môi trường biển ven bờ Biển là nơi tiếp nhận phần lớn các chất thải từ lục địa theo các dòng chảy sông suối, các chất thải từ các hoạt động của con người trên biển như khai thác khoáng sản, giao thông vận tải biển. Trong nhiều năm, biển sâu còn là nơi đổ các chất thải độc hại như chất thải phóng xạ của nhiều quốc gia trên thế giới. Các biểu hiện của sự ô nhiễm biển khá đa dạng, có thể chia ra thành một số dạng như sau: - Gia tăng nồng độ của các chất ô nhiễm trong nước biển như dầu, kim loại nặng, các hoá chất độc hại.
- Gia tăng nồng độ các chất ô nhiễm tích tụ trong trầm tích biển vùng ven bờ. - Suy thoái các hệ sinh thái biển như hệ sinh thái san hô, hệ sinh thái rừng ngập mặn, cỏ biển v. - Suy giảm trữ lượng các loài sinh vật biển và giảm tính đa dạng sinh học biển. - Xuất hiện các hiện tượng như thuỷ triều đỏ, tích tụ các chất ô nhiễm trong các thực phẩm lấy từ biển.
Các nguồn phát sinh Công ước Luật biển năm 1982 đã chỉ ra rằng có 5 nguồn ô nhiễm chính gây ô nhiễm biển: + Các hoạt động trên đất liền : Các nguồn ô nhiễm từ lục địa theo sông ngòi mang ra biển như dầu và sản phẩm dầu, nước thải, phân bón nông nghiệp, thuốc trừ sâu, chất thải công nghiệp, chất thải phóng xạ và nhiều chất ô nhiễm khác. Hàng năm, các chất thải rắn đổ ra biển trên thế giới khoảng 50 triệu tấn, gồm đất, cát, rác thải, phế liệu xây dựng, chất phóng xạ. Một số chất thải loại này sẽ lắng tại vùng biển ven bờ. Một số chất khác bị phân huỷ và lan truyền trong toàn khối nước biển.
[5] + Thăm dò và khai thác tài nguyên trên thềm lục địa và đáy đại dương : Trong tương lai, do khan hiếm nguồn trên lục địa, sản lượng khai thác khoáng sản đáy biển sẽ gia tăng đáng kể. Trong số đó, việc khai thác dầu khí trên biển có tác 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động mạnh mẽ nhất đến môi trường biển. Hiện tượng rò rỉ dầu từ giàn khoan, các phương tiện vận chuyển và sự cố tràn dầu có xu hướng gia tăng cùng với sản lượng khai thác dầu khí trên biển. Vết dầu loang trên nước ngăn cản quá trình hoà tan oxy từ không khí.
Cặn dầu lắng xuống đáy làm ô nhiễm trầm tích đáy biển. Nồng độ dầu cao trong nước có tác động xấu tới hoạt động của các loài sinh vật biển. [5] + Thải các chất độc hại ra biển : Loài người đã và đang thải ra biển rất nhiều chất thải độc hại một cách có ý thức và không có ý thức.