Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Lơ xê mi kinh dòng bạch cầu hạt (Chronic Myeloid Leukemia - CML) là bệnh lý ác tính thuộc hội chứng tăng sinh tủy mạn tính của hệ tạo máu, đặc trưng bởi sự tăng sinh không kiểm soát của các tế bào dòng bạch cầu hạt đã biệt hóa. Tình trạng này dẫn đến sự gia tăng số lượng bạch cầu ở máu ngoại vi và tủy xương với đầy đủ các lứa tuổi của dòng hạt từ non đến già. Về mặt dịch tễ học, bệnh chiếm khoảng 3% tổng số các bệnh ung thư trên toàn thế giới và chiếm khoảng 15–20% các trường hợp lơ xê mi ở người lớn (tương đương 5% tổng số các bệnh tạo máu). Tỷ lệ mới mắc hàng năm dao động trong khoảng 0,7–1,0/100.000 dân, có xu hướng tăng dần theo độ tuổi và thường gặp nhất trong khoảng 30–60 tuổi, ưu thế hơn ở nam giới với tỷ lệ nam/nữ từ 1,2 đến 1,7.

Diễn biến tự nhiên của bệnh trải qua ba giai đoạn: giai đoạn mạn tính, giai đoạn tăng tốc và giai đoạn chuyển cấp. Thời gian tiến triển từ giai đoạn mạn tính sang giai đoạn cấp trung bình khoảng 42 tháng (từ 3 đến 5 năm). Khi đã chuyển sang giai đoạn lơ xê mi cấp, thời gian sống thêm của người bệnh rút ngắn nghiêm trọng, trung bình chỉ khoảng 2 tháng đối với chuyển cấp dòng tủy và khoảng 6 tháng đối với chuyển cấp dòng lympho, đòi hỏi phải can thiệp đa hóa trị liệu kết hợp hồi sức tích cực với chi phí tốn kém. Cơ chế bệnh sinh cốt lõi của bệnh gắn liền với nhiễm sắc thể Philadelphia (NST Ph) – hệ quả của đột biến chuyển đoạn tương hỗ giữa nhánh dài của nhiễm sắc thể số 9 và số 22, ký hiệu t(9;22)(q34;q11). Sự tái sắp xếp này hình thành gen lai BCR-ABL, mã hóa protein có hoạt tính tyrosine kinase nội sinh mạnh (chủ yếu là P210), kích thích phân bào, ức chế quá trình chết theo chương trình (apoptosis) và làm giảm khả năng kết dính của tế bào ác tính với chất nền tủy xương.

Từ thực tiễn chẩn đoán và theo dõi điều trị, tác giả thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm giải quyết 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả được đặc điểm nhiễm sắc thể Philadelphia ở bệnh nhân Lơ xê mi kinh dòng bạch cầu hạt bằng phương pháp nhiễm sắc thể đồ.
  2. Mô tả được đặc điểm đột biến gen BCR-ABL ở bệnh nhân Lơ xê mi kinh dòng bạch cầu hạt bằng phương pháp PCR.
  3. So sánh được kết quả xét nghiệm của hai phương pháp nhiễm sắc thể đồ và PCR ở bệnh nhân Lơ xê mi kinh dòng bạch cầu hạt.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: 107 mẫu dịch tủy xương lấy từ các bệnh nhân được chẩn đoán xác định lơ xê mi kinh dòng bạch cầu hạt lần đầu, từ 18 tuổi trở lên, chưa qua điều trị trước đó, có đầy đủ kết quả xét nghiệm nhiễm sắc thể đồ tế bào tủy xương và xét nghiệm gen BCR-ABL bằng kỹ thuật PCR.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân có tiền sử mắc các bệnh ác tính khác; bệnh nhân lơ xê mi kinh dòng hạt đã chuyển cấp; các bệnh lý khác thuộc hội chứng tăng sinh tủy ác tính (đa hồng cầu, xơ tủy, tăng tiểu cầu tiên phát); hoặc các trường hợp chọc hút tủy xương thất bại (dị ứng thuốc tê, mẫu tủy bị đông).
  • Phạm vi không gian: Khoa Di truyền và Sinh học phân tử, Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương.
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 5 năm 2022 đến tháng 2 năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng trên cơ sở lý thuyết về sinh học tế bào, di truyền học tế bào và sinh học phân tử ung thư máu:

  • Cơ chế di truyền tế bào: Đột biến chuyển đoạn t(9;22)(q34;q11) làm đứt gãy gen c-ABL tại băng 9q34 (trên vùng khoảng 300 kb tại đầu 5') và gen c-BCR tại băng 22q11. Điểm đứt gãy trên gen BCR thường tập trung ở vùng M-BCR (Major breakpoint cluster region, gồm các exon b1–b4, thường gặp là đứt tại exon 13 hoặc 14, tức b2 hoặc b3) kết hợp với exon a2 của gen ABL, tạo tổ hợp e13a2 hoặc e14a2 phiên mã ra protein P210 (trọng lượng phân tử 210 kDa). Ngoài ra còn có vùng m-BCR (tạo tổ hợp e1a2, protein P190) và vùng $\mu$-BCR (tạo tổ hợp e19a2, protein P230).

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thu thập số liệu hồi cứu.

  • Công thức tính cỡ mẫu: Cỡ mẫu áp dụng cho nghiên cứu mô tả tỷ lệ:

    $$N = \frac{Z_{1-\alpha/2}^2 \cdot p(1-p)}{d^2}$$

    Trong đó: độ tin cậy 95% ($Z_{1-\alpha/2} = 1,96$), sai số cho phép $d = 0,06$, tỷ lệ ước tính $p = 0,9$ (dựa trên tỷ lệ NST Ph dương tính khoảng 90% từ các y văn). Cỡ mẫu lý thuyết tính được là 96 bệnh nhân, dự phòng 10% hao hụt tương đương cỡ mẫu tối thiểu 106 bệnh nhân. Nghiên cứu thực tế thu thập được 107 bệnh nhân.

  • Vật liệu và quy trình xét nghiệm:

    • Mẫu bệnh phẩm: 2 ml dịch tủy xương chống đông bằng heparin sodium 5 ml dùng cho nuôi cấy phân tích nhiễm sắc thể; 2 ml dịch tủy xương chống đông bằng EDTA 5 ml dùng cho xét nghiệm sinh học phân tử.
    • Kỹ thuật nhiễm sắc thể đồ (Karyotyping): Tế bào tủy xương được nuôi cấy trong môi trường BIO-MARROW KM (Biological Industries) bổ sung huyết thanh bào thai bê (FBS - Sigma), sử dụng dung dịch Colcemide 0,01% (PAN BIOTECH) để ức chế phân bào ở kỳ giữa, xử lý nhược trương bằng dung dịch KCl 0,075M (pH = 7,4), cố định bằng Carnoy (Methanol tuyệt đối và Axit axetic), nhuộm băng G bằng Trypsin và Giemsa. Tiêu bản được chụp và phân tích tối thiểu 20 cụm tế bào đang gián phân trên kính hiển vi tích hợp phần mềm phân tích Ikaros (Metasystems).
    • Kỹ thuật Multiplex PCR: Tách chiết RNA tổng số bằng bộ kít Mag-Bind Total RNA (Omega Bio-tek). Phản ứng khuếch đại phiên mã ngược đồng thời bằng máy luân nhiệt Prime Thermal Cycler (Anh) với 2X Reaction Mix, Primer mix, Platinum Taq enzyme. Sản phẩm PCR được điện di trên gel agarose 2% (Genaxxon) trong đệm TBE 0,5X (AppliChem), sử dụng Loading dye 6X và thang chuẩn ADN 100 bp (Thermo), đọc kết quả dưới ánh sáng cực tím nhằm phát hiện các biến thể Major BCR-ABL và minor BCR-ABL. Ngưỡng phát hiện của kỹ thuật PCR đạt 0,0032% theo Thang chuẩn Quốc tế (IS).
  • Xử lý số liệu và đạo đức nghiên cứu: Dữ liệu được nhập, làm sạch và phân tích bằng phần mềm Microsoft Excel. Nghiên cứu tuân thủ các chuẩn mực đạo đức y học, được sự phê duyệt của Lãnh đạo Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương, đảm bảo bảo mật thông tin và phục vụ mục đích nâng cao chất lượng chẩn đoán lâm sàng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa lịch sử phát hiện và bản chất bệnh học của lơ xê mi kinh dòng bạch cầu hạt. Bệnh được John Bennett và Rudolf Virchow mô tả lần đầu vào năm 1845. Đến năm 1960, Peter Nowell và David Hungerford phát hiện NST bất thường nhỏ (NST Ph), đánh dấu lần đầu tiên xác lập mối liên kết giữa biến đổi nhiễm sắc thể và ung thư. Năm 1973, Janet Rowley làm rõ cơ chế chuyển đoạn tương hỗ t(9;22)(q34;q11). Tác giả tổng thuật chi tiết biểu hiện lâm sàng qua ba giai đoạn (mạn tính với lách to ở 85–90% bệnh nhân; tăng tốc với thiếu máu nặng, xuất huyết, số lượng blast 10–19%; chuyển cấp với tỷ lệ blast $\ge 20%$). Về mặt cận lâm sàng, chương 1 đối chiếu chi tiết ba nhóm kỹ thuật: xét nghiệm nhiễm sắc thể đồ (cho phép bao quát toàn bộ 23 cặp NST, phát hiện các chuyển vị phức tạp và bất thường kèm theo nhưng độ nhạy phụ thuộc số cụm gián phân), kỹ thuật lai huỳnh quang tại chỗ (FISH - dùng mẫu dò đặc hiệu, độ nhạy cao nhưng chi phí lớn và tiêu bản không lưu trữ lâu dài), và kỹ thuật PCR/RQ-PCR (độ nhạy cao, phát hiện đột biến ở mức độ phân tử, xác định nồng độ tồn lưu tối thiểu MRD theo thang IS, nhưng không đánh giá được các biến đổi cấu trúc NST khác ngoài gen đích).

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Tác giả trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 107 bệnh nhân tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương. Toàn bộ các tiêu chuẩn chọn bệnh, tiêu chuẩn loại trừ, hệ thống trang thiết bị (máy PCR Prime Thermal Cycler, phần mềm Ikaros, hệ thống điện di MultiSUBchoice) và hóa chất chuyên dụng được liệt kê rõ ràng. Quy trình thực nghiệm được chuẩn hóa qua sơ đồ nghiên cứu: từ khâu lấy mẫu tủy kép (heparin và EDTA), song song thực hiện nuôi cấy tế bào tủy thu hoạch NST kỳ giữa và tách chiết RNA tổng số để chạy Multiplex PCR, đến bước tổng hợp số liệu so sánh độ tương đồng và khác biệt giữa hai phương pháp.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương này công bố các số liệu gốc thu thập từ 107 bệnh nhân với các phát hiện chính:

  • Đặc điểm dịch tễ: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là $49,6 \pm 16,6$ tuổi (dao động từ 19 đến 84 tuổi). Nhóm tuổi tập trung nhiều nhất là 46–60 tuổi (36 bệnh nhân, chiếm 33,6%), tiếp đến là nhóm 31–45 tuổi (28 bệnh nhân, chiếm 26,2%). Tỷ lệ nam giới chiếm 54,2% (58 bệnh nhân), nữ giới chiếm 45,8% (49 bệnh nhân), tỷ lệ nam/nữ đạt 1,2.
  • Kết quả nhiễm sắc thể đồ: Tỷ lệ NST Ph dương tính chiếm 90,7% (97/107 bệnh nhân); âm tính chiếm 9,3% (10/107 bệnh nhân).
  • Phân loại bất thường tế bào học trên 97 bệnh nhân NST Ph (+):
    • Dạng đơn dòng chiếm 94,8% (92 bệnh nhân), bao gồm: NST Ph điển hình t(9;22)(q34;q11) chiếm 86,6% (84 bệnh nhân); NST Ph không điển hình chiếm 4,1% (4 bệnh nhân); NST Ph kèm bất thường NST khác chiếm 4,1% (4 bệnh nhân).
    • Dạng đa dòng chiếm 5,2% (5 bệnh nhân), phản ánh sự không đồng nhất về dòng tế bào ác tính.
  • Đặc điểm bất thường cấu trúc phức tạp:
    • 4 ca NST Ph không điển hình đơn dòng gồm 3 ca chuyển vị 3 nhiễm sắc thể: 46,XX,t(9;22;12)[20], 46,XY,t(9;22;13)[20], 46,XY,t(9;22;17)[20] và 1 ca mang nhiễm sắc thể đều nhánh dài: 46,XY,t(9;22),ider(22)(q10)t(9;22)[20]. Ngoài ra có 1 ca đa dòng: 46,XX,t(4;9;22)[1]/45,XX,-7,t(4;9;22)[19].
    • 8 ca mang NST Ph kèm bất thường khác: gồm mất NST giới tính (45,X,-Y,t(9;22)), mất nhiễm sắc thể 7 (45,XX,-7,t(9;22)), thêm đoạn nhánh dài NST 14 (add(14q)), thêm đoạn NST 7 (add(7q)), mất đoạn NST 15 (del(15q)), thêm đoạn NST 21 (add(21q)), thêm đoạn NST 22 (add(22q)), và dạng thiểu bội 28~40 NST.
  • Kết quả xét nghiệm PCR: Tỷ lệ gen BCR-ABL dương tính là 91,6% (98/107 bệnh nhân); âm tính là 8,4% (9/107 bệnh nhân). Về phân loại bản sao, kiểu đột biến Major BCR-ABL chiếm ưu thế tuyệt đối với 90,7% (97/107 bệnh nhân), kiểu minor BCR-ABL chiếm 0,9% (1/107 bệnh nhân), và 8,4% âm tính.
  • Tương quan so sánh giữa hai phương pháp:
    • 97 trường hợp (90,7%) dương tính trên cả hai xét nghiệm.
    • 9 trường hợp (8,4%) âm tính trên cả hai xét nghiệm.
    • 1 trường hợp (0,9%) có gen BCR-ABL dương tính nhưng xét nghiệm NST đồ cho kết quả âm tính.
    • Không ghi nhận trường hợp nào có NST Ph dương tính nhưng PCR âm tính.

Chương 4: Bàn luận

Tác giả so sánh các chỉ số thu được với các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế:

  • Về độ tuổi và giới tính: Tuổi trung bình 49,6 tương đồng với các nghiên cứu của Phạm Ngọc Hà (49 tuổi), Paramita và cộng sự (46,8 tuổi), Agarwal và cộng sự (42 tuổi), Nguyễn Văn Nam (42,7 tuổi) và Rabinowitz & Larson (53 tuổi). Tỷ lệ nam/nữ bằng 1,2 hoàn toàn phù hợp với Muhammad và cộng sự (1,2/1), Kumar S và cộng sự (1,4/1), Nguyễn Ngọc Dũng (1,39/1) và Nguyễn Văn Nam (1,47/1).
  • Về tỷ lệ NST Ph và các đột biến đi kèm: Tỷ lệ NST Ph (+) đạt 90,7% phù hợp với kết quả của Nguyễn Thiên Lữ (91,4%) và Cao Sỹ Luân (91,1%). Tỷ lệ NST Ph không điển hình (4,1%) tương đồng với Marzocchi và cộng sự (5%). Tỷ lệ có bất thường NST khác đi kèm (4,1%) tương đương kết quả của Alhuraiji và cộng sự (5,2%). Sự hiện diện của các đột biến phụ như mất NST Y hoặc mất NST 7 được thảo luận là các dấu hiệu cảnh báo nguy cơ bệnh tiến triển hoặc chuyển cấp sớm.
  • Về vai trò của phương pháp sinh học phân tử: Tỷ lệ phát hiện BCR-ABL bằng Multiplex PCR (91,6%) tương đương với tác giả Nguyễn Thiên Lữ (94,3%), trong đó kiểu phiên mã Major chiếm tỷ lệ áp đảo (90,7%), phù hợp với quy luật bệnh sinh học dòng tủy (ngược lại kiểu minor chiếm 0,9% thường chỉ xuất hiện ở bệnh bạch cầu cấp dòng lympho Ph+). Trường hợp 1 bệnh nhân có PCR dương tính nhưng NST đồ âm tính chứng minh độ nhạy vượt trội của kỹ thuật sinh học phân tử, khắc phục hạn chế của việc phân tích giới hạn trong 20 cụm tế bào gián phân hoặc các chuyển đoạn vi mô bị che khuất.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực nghiệm toàn diện về đặc điểm tế bào học và phân tử trên nhóm bệnh nhân CML tại Việt Nam.

Chỉ số khảo sát Phương pháp NST đồ (Karyotype) Phương pháp Multiplex PCR
Tỷ lệ dương tính 90,7% (97/107 bệnh nhân) 91,6% (98/107 bệnh nhân)
Tỷ lệ âm tính 9,3% (10/107 bệnh nhân) 8,4% (9/107 bệnh nhân)
Phân loại chi tiết - Điển hình: 86,6% (84 ca)
- Không điển hình: 4,1% (4 ca)
- Kèm bất thường khác: 4,1% (4 ca)
- Dạng đa dòng: 5,2% (5 ca)
- Major BCR-ABL: 90,7% (97 ca)
- Minor BCR-ABL: 0,9% (1 ca)
- Không phát hiện: 8,4% (9 ca)
Giới hạn phát hiện Quan sát tối thiểu 20 cụm tế bào gián phân Ngưỡng phát hiện 0,0032% IS
Phát hiện đột biến phối hợp Khảo sát được toàn bộ 23 cặp NST (phát hiện add, del, mất NST Y, mất NST 7...) Chỉ khuếch đại các đoạn gen đích được thiết kế mồi
Phân loại đối chiếu giữa hai phương pháp Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
NST Ph (+) và BCR-ABL (+) 97 90,7
NST Ph (-) và BCR-ABL (-) 9 8,4
NST Ph (-) và BCR-ABL (+) 1 0,9
NST Ph (+) và BCR-ABL (-) 0 0
Tổng số 107 100,0

Giải pháp và kiến nghị của tác giả:

  • Cần tối ưu hóa quy trình phân tích nhiễm sắc thể đồ bằng cách tăng tối đa số lượng cụm tế bào gián phân được phân tích nhằm giảm thiểu tỷ lệ âm tính giả do hạn chế số lượng cụm tế bào.
  • Đề xuất chỉ định phối hợp song song cả hai xét nghiệm nhiễm sắc thể đồ và Multiplex PCR ngay tại thời điểm chẩn đoán ban đầu. Kỹ thuật PCR giúp tránh bỏ sót tổn thương ở mức độ phân tử, trong khi kỹ thuật nhiễm sắc thể đồ cung cấp bức tranh toàn cảnh về bộ nhiễm sắc thể, phát hiện sớm các dòng tế bào tiến triển mang chuyển vị phức tạp hoặc đột biến bổ sung để giúp bác sĩ lâm sàng tiên lượng bệnh và cá thể hóa phác đồ điều trị.

Đóng góp mới của tác giả:

  • Báo cáo chi tiết các biến thể chuyển vị hiếm gặp của NST Ph trên bệnh nhân Việt Nam, gồm chuyển vị 3 nhiễm sắc thể phức tạp với NST 12, 13, 17 và cấu trúc nhiễm sắc thể đều ider(22)(q10)t(9;22).
  • Xác định tỷ lệ xuất hiện dạng đa dòng (5,2%) và các đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể đi kèm ngoài chuyển đoạn t(9;22), bổ sung nguồn dẫn liệu di truyền học tế bào thực tế tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện theo thiết kế mô tả cắt ngang hồi cứu trên 107 bệnh nhân tại một trung tâm huyết học duy nhất; số lượng cụm tế bào phân tích ở phương pháp nhiễm sắc thể đồ bị khống chế ở mức 20 cụm gián phân; kỹ thuật Multiplex PCR trong nghiên cứu mới dừng ở việc phân loại định tính hai dạng bản sao chính (Major và minor) mà chưa định lượng cụ thể số lượng bản sao bằng Realtime Quantitative PCR.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tác giả đề xuất thực hiện các nghiên cứu tiếp theo nhằm đánh giá mối liên quan giữa các kiểu bất thường nhiễm sắc thể (đặc biệt là nhóm mang NST Ph không điển hình, đa dòng hoặc có đột biến bổ sung) với mức độ đáp ứng điều trị thuốc ức chế tyrosine kinase (TKI) và thời gian sống thêm của bệnh nhân.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên sau đại học chuyên ngành Kỹ thuật Xét nghiệm Y học, Huyết học – Truyền máu, Di truyền Y học và Ung bướu; các kỹ thuật viên phòng xét nghiệm tế bào di truyền và sinh học phân tử.
  • Nội dung có giá trị ứng dụng:
    • Quy trình nuôi cấy, thu hoạch, xử lý nhược trương và nhuộm băng G tiêu bản tế bào tủy xương được chuẩn hóa chi tiết tại Chương 2.
    • Bộ danh mục các công thức Karyotype mẫu đối với các biến thể NST Ph không điển hình và bất thường cấu trúc kèm theo (Bảng 3.4 và 3.5), hỗ trợ thực hành đọc và biện giải kết quả di truyền tế bào học.
    • Phân tích so sánh độ nhạy và tính bổ trợ giữa kỹ thuật di truyền tế bào và kỹ thuật khuếch đại gen trong chẩn đoán xác định bệnh lý tăng sinh tủy.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ phát hiện NST Philadelphia bằng phương pháp nhiễm sắc thể đồ và tỷ lệ gen BCR-ABL bằng PCR trong nghiên cứu có sự chênh lệch như thế nào?
Xét nghiệm nhiễm sắc thể đồ phát hiện 90,7% (97/107 bệnh nhân) mang NST Ph, trong khi xét nghiệm Multiplex PCR phát hiện 91,6% (98/107 bệnh nhân) mang gen BCR-ABL. Có 1 trường hợp (chiếm 0,9%) mang gen BCR-ABL dương tính nhưng xét nghiệm nhiễm sắc thể đồ cho kết quả âm tính. Sự khác biệt này xuất phát từ ngưỡng phát hiện của PCR cao hơn (đạt ngưỡng 0,0032% IS), trong khi nhiễm sắc thể đồ chỉ khảo sát tối thiểu 20 cụm tế bào đang gián phân hoặc có thể gặp các chuyển đoạn ẩn dưới kính hiển vi quang học.

2. Các kiểu biến thể NST Ph không điển hình nào đã được ghi nhận trong nghiên cứu?
Nghiên cứu ghi nhận 5 trường hợp mang NST Ph không điển hình, bao gồm: 3 trường hợp chuyển vị phức tạp liên quan đến 3 nhiễm sắc thể gồm 46,XX,t(9;22;12), 46,XY,t(9;22;13) và 46,XY,t(9;22;17); 1 trường hợp nhân đôi nhánh dài NST Ph sau chuyển đoạn tạo thành nhiễm sắc thể đều 46,XY,t(9;22),ider(22)(q10)t(9;22); và 1 trường hợp mang kiểu hình đa dòng có chuyển vị 3 nhiễm sắc thể kết hợp mất nhiễm sắc thể số 7: 46,XX,t(4;9;22)[1]/45,XX,-7,t(4;9;22)[19].

3. Tỷ lệ phân bố các dạng bản sao gen BCR-ABL bằng kỹ thuật Multiplex PCR trong nghiên cứu ra sao?
Trong tổng số 107 bệnh nhân, dạng đột biến Major BCR-ABL (tổ hợp exon e13a2 hoặc e14a2 tạo protein P210) chiếm 90,7% (97 bệnh nhân); dạng minor BCR-ABL (tổ hợp exon e1a2 tạo protein P190) chiếm 0,9% (1 bệnh nhân); 9 trường hợp còn lại (chiếm 8,4%) âm tính với cả hai kiểu bản sao trên.

4. Vì sao kỹ thuật nhiễm sắc thể đồ vẫn được khuyến cáo thực hiện song song dù kỹ thuật PCR có độ nhạy cao hơn?
Dù phương pháp PCR có độ nhạy phân tử cao hơn và thời gian thực hiện nhanh, kỹ thuật này chỉ khuếch đại đoạn gen đích theo các cặp mồi cố định. Ngược lại, nhiễm sắc thể đồ có độ bao phủ toàn bộ 23 cặp nhiễm sắc thể, giúp nhận diện các bất thường cấu trúc phức tạp ngoài chuyển đoạn t(9;22), các đột biến đi kèm như mất đoạn, thêm đoạn, mất NST Y, mất NST 7, cũng như các kiểu hình đa dòng – những yếu tố có ý nghĩa tiên lượng nguy cơ chuyển cấp và kháng thuốc mà xét nghiệm PCR đơn thuần không thể phát hiện được.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã đánh giá toàn diện đặc điểm tế bào học và phân tử của nhiễm sắc thể Philadelphia trên 107 bệnh nhân lơ xê mi kinh dòng bạch cầu hạt tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương giai đoạn 2022–2023. Tỷ lệ phát hiện NST Ph bằng kỹ thuật nhiễm sắc thể đồ đạt 90,7% và tỷ lệ phát hiện gen BCR-ABL bằng kỹ thuật Multiplex PCR đạt 91,6%, trong đó biến thể Major BCR-ABL chiếm đa số (90,7%). Nghiên cứu làm rõ sự tồn tại của các biến thể chuyển vị phức tạp, các tổn thương nhiễm sắc thể phối hợp và trường hợp âm tính giả trên nhiễm sắc thể đồ, từ đó khẳng định vai trò thiết yếu của việc chỉ định phối hợp song hành cả hai phương pháp trong chẩn đoán ban đầu và tiên lượng bệnh.