Mở đầu của quá trình nhận thức là sự tác động của thế giới khách quan vào các giác quan và bộ não của chủ thể, sau đó não bộ sẽ xử lí và mã hoá thông tin tạo ra sản phẩm của quá trình nhận thức. Tuy nhiên, những định nghĩa trên chỉ mới dừng ở việc xét nhận thức như một quá trình tâm lí mà chưa xem xét vai trò của những sản phẩm do nhận thức tạo ra. Các tác giả xem nhận thức là một quá trình riêng lẻ của tâm lý người. Trong thực tế ta thấy rằng, nhận thức là một trong ba mặt của đời sống tâm lý con người.
Chúng ta cần hiểu nhận thức như một quá trình tâm lý và xét nhận thức với các mặt còn lại 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của đời sống tâm lý để có những cách nhìn nhận toàn diện và sâu sắc nhất. Từ những quan điểm đó, người nghiên cứu có thể đưa ra một cách hiểu đầy đủ hơn về nhận thức như sau: Nhận thức là quá trình tâm lý, phản ánh những sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan tác động vào trong bộ não của con người chi phối thái độ và điều chỉnh xu hướng hành vi của một cá nhân.Trong đề tài này, khái niệm “Nhận thức” được phân tích là những quan điểm, sự nhìn nhận và đánh giá của sinh viên trường Đại học Hải Phòng về học chế tín chỉ: + Nhận thức chung của sinh viên trường Đại học Hải Phòng về học chế tín chỉ. + Nhận thức về mục tiêu của học chế tín chỉ của sinh viên Đại học Hải Phòng + Nhận thức về quy chế học chế tín chỉ( cách tham gia bài giảng trên lớp, về hoạt động chuẩn bị bài, về hoạt động lên thư viện…) của sinh viên học theo hình thức đào tạo tín chỉ. Đặc điểm của nhận thức Nhận thức là cơ sở của mọi hoạt động tâm lý người.
Nhờ nhận thức, con người mới có cảm xúc, tình cảm, ý chí và hành động. Nhận thức là tiền đề cho các hiện tượng tâm lý khác. Nhận thức không chỉ phản ánh hiện thực xung quanh mà còn phản ánh cả hiện thực của bản thân chủ thể; nó không chỉ phản ánh hiện thực bên ngoài mà còn phản ánh cái bên trong, không chỉ phản ánh cái hiện tại mà còn phản ánh cái đã qua và cái sẽ tới của hiện thực khách quan. Đặc điểm của quá trình nhận thức bao gồm một số đặc điểm cơ bản sau: * Nhận thức là một quá trình hoạt động Đặc điểm nổi bật nhất của nhận thức là tri thức về hiện thực khách quan.
Nó không chỉ là tri thức về các thuộc tính bên ngoài mà còn là tri thức về các thuộc tính bên trong. Nhận thức là cơ sở của mọi hoạt động tâm lý con người. Nhận thức là hoạt động khám phá thế giới xung quanh của chủ thể nhằm tìm ra chân lý hay sự thật về những thuộc tính và các quy luật khách quan của sự vật hay hiện tượng. Nhận thức đúng làm cơ sở cho tình cảm, ý chí, quan điểm, lập trường, tư tưởng và hành động đúng.
Nhận thức thể hiện ở những mức độ khác nhau và mang lại sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Nhận thức mang bản chất lịch sử, xã hội Nhận thức bao giờ cũng phải dựa vào những tri thức đã có, kinh nghiệm của nhân loại đã tích lũy được, tức là dựa vào kết quả nhận thức mà xã hội loài người đã đạt được ở trình độ phát triển lịch sử lúc đó. Nhận thức phải sử dụng các ngôn ngữ khác nhau do các thế hệ trước sáng tạo ra với tư cách là phương tiện biểu cảm, khái quát và gìn giữ kết quả nhận thức của loài người. Quá trình nhận thức được thúc đẩy bởi nhu cầu của xã hội, nghĩa là ý nghĩ của con người được hướng vào giải quyết các vấn đề cấp thiết do xã hội đặt ra.
Nhận thức của con người mang tính lịch sử bởi bề rộng của sự khái quát và chiều sâu của việc phát hiện ra bản chất sự vật hiện tượng; được quy định không chỉ bởi khả năng của cá nhân, mà còn bởi kết quả của nhận thức mà loài người đã đạt được, vào kho tàng tri thức có liên quan, vào tri thức và trí tuệ của nhân loại. Như vậy, tri thức của mỗi người được hình thành và phát triển trong quá trình nhận thức tích cực của bản thân họ, nhưng nội dung và tính chất của tri thức được quy đ ịnh bởi trình độ chung, tồn tại trong một giai đoạn phát triển xã hội lúc đó. Nhận thức là một sản phẩm của sự phát triển xã hội – lịch sử. Phân loại nhận thức Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về việc phân loại mức độ nhận thức.
Quan điểm đầu tiên chia nhận thức thành hai mức độ gồm: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính [45, tr. Nhận thức cảm tính là mức độ nhận thức thấp, chủ thể chỉ phản ánh được những thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng cụ thể khi sự vật, hiện tượng đó trực tiếp tác động vào giác quan của con người. Mức độ nhận thức này gồm cảm giác và tri giác. Cảm giác: Là bước nhận thức sơ khai nhất khi con người sử dụng các giác quan sinh học để tiếp xúc với sự vật và thu được kết quả là sự nhận biết về các đặc điểm bên ngoài của sự vật ấy.
Sự nhận biết thu được từ quá trình cảm giác chỉ phản ánh từng đặc điểm bên ngoài, từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật nhờ vào phản ứng trực tiếp của từng giác quan khi tiếp xúc với sự vật. Khi sự vật không còn tác động, không gây kích thích vào các giác quan, quá trình cảm giác kết thúc. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy cảm giác là quá trình nhận thức cấp thấp nhất, đơn giản nhưng nó lại có ý nghĩa quan trọng với con người. Cảm giác là mối liên hệ trực tiếp giữa cơ thể và môi trường xung quanh, từ đó mà con người có khả năng định hướng và thích nghi với môi trường.
Nhờ cảm giác, con người thu thập dữ liệu về thế giới khách quan ở dạng đơn giản nhất, trực quan nhất, cụ thể nhất. Dựa trên những dữ liệu này, chức năng của não sẽ có cơ sở để tiến hành các quá trình nhận thức ở cấp cao hơn. Tuy nó là mức độ nhận thức đầu tiên, đơn giản chỉ phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ nhưng nếu không có nó thì không có được mức độ nhận thức cao hơn. Cao hơn cảm giác là tri giác – phản ánh trọn vẹn sự vật hiện tượng nhưng chỉ phản ánh được thuộc tính bề ngoài của sự vật hiện tượng.
Tri giác: Là bước nhận thức tiếp theo sau cảm giác. Cũng như cảm giác, quá trình tri giác bắt đầu khi có tác động trực tiếp của sự vật hiện tượng đến các giác quan của con người. Kết thúc quá trình tri giác, sản phẩm thu được là tổng hợp các thuộc tính bên ngoài của sự vật. Không như cảm giác cho kết quả là các thuộc tính riêng lẻ, rời rạc, tri giác cho kết quả là hình ảnh bên ngoài trọn vẹn, hoàn chỉnh của sự vật.
Nói như vậy, không có nghĩa phản ánh của tri giác là phép cộng dồn những kết quả phản ánh của cảm giác. Mà ở tri giác có sự tham gia của tư duy, ngôn ngữ và nhiều chức năng tâm lý khác để có thể phản ánh một cách đầy đủ nhất, toàn diện nhất những thuộc tính bên ngoài của sự vật hiện tượng. Tri giác chưa cho phép con người phản ánh được tính chất bên trong của sự vật hiện tượng. Nhưng nhờ tri giác, con người có những định hướng nhanh chóng và chính xác hơn trong thế giới, giúp con người phản ánh có lựa chọn và mang tính ý nghĩa.
Hình ảnh - sản phẩm của tri giác tham gia vào hoạt động tư duy trực quan hình ảnh và là một bộ phận trong các thao tác của hành động trực quan. Một phần giống với cảm giác, tri giác cung cấp cho con người nguyên liệu để tiến hành các bước nhận thức ở mức độ cao hơn, nhưng khác với nguyên liệu do cảm giác đem đến, còn ở dạng rời rạc, nguyên liệu do tri giác đem đến đã ở dạng hoàn chỉnh. Như vậy, quá trình nhận thức cảm tính là sự phản ánh về sự vật hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp vào các giác quan. Nội dung phản ánh của nhận thức cảm tính là những thuộc tính trực quan, cụ thể, bên ngoài của sự vật hiện tượng, 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những mối liên hệ và quan hệ đơn giản chứ chưa phải là những thuộc tính bản chất, bên trong, những mối quan hệ và liên hệ có tính quy luật của sự vật hiện tượng thế giới khách quan.
Cao hơn quá trình nhận thức cảm tính là quá trình nhận thức lý tính. Nhận thức lý tính là mức độ nhận thức cao trong nhận thức của con người. Ở mức độ này con người có khả năng phản ánh được những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ, quan hệ mang tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà con người trước đó chưa biết. Đồng thời, nhờ phản ánh cái bản chất mà nhận thức lý tính phản ánh khái quát hàng loạt sự vật, hiện tượng có chung bản chất xét về một phương diện nào đó, đấy là mức độ phản ánh cao nhất và rất quan trọng của con người.
Quá trình này gồm hai quá trình bộ phận là tư duy và tưởng tượng. Tư duy: là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối quan hệ và liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng. Tư duy sử dụng sản phẩm của cảm giác, tri giác làm nguyên liệu được lưu giữ trong trí nhớ để tiến hành các thao tác tư duy và cho ra sản phẩm là cái vừa toàn vẹn, hoàn chỉnh, vừa đi sâu vào bản chất. Các thao tác của quá trình tư duy tiến bộ vượt bậc xét về chất so với phương thức nhận thức cảm tính.
Quá trình cảm giác, tri giác của nhận thức cảm tính chỉ được kích hoạt và diễn ra khi sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của con người. Còn quá trình tư duy được kích hoạt và diễn ra ngay cả khi sự vật, hiện tượng không còn trực tiếp tác động vào con người, mà tư duy nảy sinh trong hoàn cảnh con người có một “vấn đề”, một mâu thuẫn cần phải giải quyết.