Tổng quan nghiên cứu

Vườn quốc gia Cát Tiên sở hữu diện tích 71.187 ha, là vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai với hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới ẩm đặc trưng bậc nhất Việt Nam. Khu bảo tồn lưu giữ 1.729 loài động vật và 1.610 loài thực vật bậc cao, trong đó có 28 loài thực vật quý hiếm nằm trong Sách Đỏ như Cẩm lai, Gõ đỏ và Giáng hương. Tuy nhiên, áp lực dân sinh từ 15.459 người dân sinh sống tại các xã vùng đệm đang đe dọa trực tiếp đến tính bền vững của các hệ sinh thái nguyên sinh.

Hoạt động khai thác cát trái phép dọc 82 km chiều dài sông Đồng Nai đã làm sạt lở hơn 27.000 m2 đất rừng tự nhiên. Bên cạnh đó, thói quen khai thác lâm sản ngoài gỗ của 75% hộ gia đình địa phương khiến tài nguyên sinh học suy thoái nghiêm trọng. Đề tài tập trung đánh giá thực trạng nhận thức của người dân tại ba xã vùng đệm trọng điểm gồm Nam Cát Tiên, Đak Lua (huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai) và Phước Cát 2 (huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng).

Nghiên cứu triển khai từ tháng 2/2022 đến tháng 5/2022 nhằm xác định mức độ hiểu biết về giá trị sinh thái và các tác động xã hội của cộng đồng lên vườn quốc gia. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng phục vụ công tác hoạch định chính sách, hướng tới mục tiêu giảm thiểu 70% các vụ vi phạm lâm luật và nâng cao tỷ lệ tham gia bảo tồn của cộng đồng địa phương lên trên 80% trong giai đoạn tới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng Thuyết Quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng (CBNRM) và Thuyết Hành vi môi trường trong khuôn khổ Công ước Đa dạng sinh học (CBD 1992). Lý thuyết CBNRM khẳng định quyền lợi kinh tế của cư dân bản địa gắn liền với trách nhiệm bảo vệ tài nguyên rừng, giúp giảm thiểu xung đột giữa cơ quan quản lý và người dân. Đồng thời, Điều 10 của Công ước CBD cung cấp khung pháp lý quốc tế về việc tôn trọng và phát huy tri thức bản địa trong bảo tồn bền vững.

Đề tài vận dụng bốn khái niệm chuyên ngành cốt lõi:

  1. Đa dạng sinh học: Toàn bộ sự phong phú của sinh quyển gồm 1.729 loài động vật và 1.610 loài thực vật tại Cát Tiên.
  2. Nhận thức bảo tồn: Quá trình tiếp nhận tri thức, chuyển hóa thành thái độ và hành động bảo vệ môi trường tự nhiên.
  3. Vùng đệm vườn quốc gia: Vành đai quản lý rộng 306.350 ha nhằm ngăn ngừa xung đột và hạn chế xâm lấn vào vùng lõi.
  4. Sinh kế bền vững: Hệ thống hoạt động tạo thu nhập không làm cạn kiệt tài nguyên rừng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập qua phương pháp Đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng (PRA), kết hợp phiếu khảo sát cấu trúc và phỏng vấn bán định hướng. Dữ liệu thứ cấp kế thừa từ Báo cáo quản lý bền vững giai đoạn 2021-2030 của Tổng cục Lâm nghiệp và số liệu kinh tế xã hội của 3 xã khảo sát.

Cỡ mẫu khảo sát được tính toán khoa học theo công thức Slovin (1984) với tổng dân số N = 15.459 người và mức sai số cho phép e = 10%:

$$n = \frac{N}{1 + N \times e^2} = \frac{15.459}{1 + 15.459 \times 0,1^2} \approx 99,36$$

Quy mô mẫu thực tế được xác định là 100 người, trong đó 90 người tham gia trả lời phiếu bảng hỏi chi tiết và 10 đại diện tham gia phỏng vấn sâu. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng tại 3 xã: Nam Cát Tiên (30 phiếu), Đak Lua (30 phiếu) và Phước Cát 2 (30 phiếu). Phương pháp phân tích định lượng sử dụng phần mềm Excel 2019 và SPSS 22.0 để xử lý thống kê mô tả, kiểm định tần số và phân tích tương quan. Ngoài ra, ma trận SWOT được áp dụng để đối chiếu điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong công tác quản lý bảo tồn tại địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát xã hội học trên 90 hộ dân cho thấy cơ cấu nhân khẩu học gồm 52,2% nam giới (47 người) và 47,8% nữ giới (43 người). Trình độ học vấn của người dân còn hạn chế khi có tới 48,9% đạt trình độ trung học cơ sở, 10% chỉ học hết tiểu học, 33,3% có trình độ trung học phổ thông, 1,1% mù chữ và chỉ có 5,4% sở hữu trình độ đại học.

Về tình trạng kinh tế, tỷ lệ hộ nghèo trong mẫu nghiên cứu chiếm 18,9% (17 hộ), tập trung nhiều nhất tại xã Đak Lua với 26,7% (8 hộ) và Nam Cát Tiên với 23,3% (7 hộ), trong khi xã Phước Cát 2 chỉ chiếm 6,7% (2 hộ). Cơ cấu thu nhập của 91,1% số hộ (82 hộ) phụ thuộc trực tiếp vào hoạt động canh tác nông nghiệp với thu nhập bình quân dao động từ 80 triệu đến 130 triệu đồng/hộ/năm.

Đáng chú ý, có tới 87,8% trong tổng số 82 hộ làm nông nghiệp thừa nhận thói quen sử dụng thường xuyên phân bón hóa học (NPK, DAP, Urê) và thuốc bảo vệ thực vật. Khi đánh giá các nguy cơ đe dọa đa dạng sinh học, 37,8% người dân nhận diện hoạt động lạm dụng hóa chất nông nghiệp là tác nhân tiêu cực hàng đầu, tiếp theo là hành vi khai thác gỗ trái phép và thu hái lâm sản với 21,3%. Tuy nhiên, một lỗ hổng nhận thức nghiêm trọng được ghi nhận khi có 22% số người được hỏi khẳng định các hoạt động dân sinh tại địa phương hoàn toàn không gây ảnh hưởng tiêu cực nào đến Vườn quốc gia Cát Tiên.

Thảo luận kết quả

Thực trạng nhận thức hạn chế bắt nguồn từ trình độ học vấn thấp và sự phụ thuộc sinh kế nặng nề vào tài nguyên đất rừng. Tại xã Nam Cát Tiên, lao động nông nghiệp chiếm tới 74,17% tổng lực lượng lao động. Tại xã Đak Lua, nguồn thu từ lâm nghiệp vẫn đóng góp khoảng 21 triệu đồng/hộ/năm trong tổng mức thu nhập 109 triệu đồng. Khoảng trống tri thức của 22% dân số phản ánh công tác truyền thông trước đây còn mang tính một chiều, thiếu tính tương tác thực tiễn.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa sinh động qua hệ thống biểu đồ thanh so sánh mức độ tác động giữa các xã và bảng phân tích ma trận SWOT. Biểu đồ chỉ ra rằng xã Đak Lua có mức độ phụ thuộc tài nguyên rừng cao nhất, đồng thời cũng là nơi có tỷ lệ người dân ít tham gia các khóa đào tạo bảo tồn nhất. Khi so sánh với các nghiên cứu tại Vườn quốc gia Ba Vì, kết quả cho thấy nét tương đồng: việc thiếu hụt đất sản xuất và sinh kế thay thế là nguyên nhân cốt lõi thúc đẩy người dân xâm lấn vùng lõi. Do đó, bảo tồn không thể tách rời bài toán cải thiện thu nhập ổn định cho cộng đồng bản địa.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Thiết lập chương trình tập huấn nâng cao nhận thức bảo tồn sinh thái: Tổ chức định kỳ 2 khóa đào tạo mỗi quý cho cư dân 3 xã vùng đệm, hướng tới mục tiêu 95% hộ gia đình tiếp cận đầy đủ Luật Lâm nghiệp 2017 và Luật Đa dạng sinh học 2008. Thời gian thực hiện từ quý 1/2023 đến hết năm 2025, do Ban quản lý Vườn quốc gia Cát Tiên chủ trì phối hợp cùng Ủy ban nhân dân các xã.

  2. Chuyển đổi mô hình nông nghiệp sinh thái tuần hoàn: Hỗ trợ kỹ thuật canh tác hữu cơ, giảm 50% lượng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu trên 1.500 ha đất canh tác lúa, điều, cà phê trong vòng 24 tháng. Chủ thể thực hiện là Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Đồng Nai kết hợp cùng Trạm Khuyến nông huyện Tân Phú.

  3. Phát triển mô hình sinh kế du lịch cộng đồng và giao khoán bảo vệ rừng: Mở rộng diện tích nhận khoán quản lý rừng lên 10.000 ha, nâng mức chi trả dịch vụ môi trường rừng để đảm bảo thu nhập bình quân của người dân đạt 120-150 triệu đồng/hộ/năm giai đoạn 2023-2026. Ban quản lý Vườn quốc gia Cát Tiên phối hợp với các hợp tác xã du lịch sinh thái triển khai.

  4. Tăng cường năng lực tuần tra liên ngành và giám sát đa dạng sinh học: Thiết lập 5 trạm quan sát lưu động và ứng dụng công nghệ định vị GPS, camera bẫy ảnh dọc tuyến sông Đồng Nai nhằm kéo giảm 70% số vụ khai thác gỗ Cẩm lai và cát trái phép trước năm 2025. Lực lượng Kiểm lâm Vườn quốc gia Cát Tiên phối hợp với Công an huyện Tân Phú và huyện Cát Tiên thực thi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Ban quản lý các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên: Ứng dụng mô hình đánh giá PRA và ma trận SWOT để đo lường mức độ tương tác giữa người dân và tài nguyên rừng, từ đó xây dựng kế hoạch quản lý rừng đặc dụng hiệu quả.

  2. Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương vùng đệm: Sử dụng các số liệu thống kê về kinh tế nông nghiệp và tỷ lệ hộ nghèo (18,9%) để hoạch định chính sách an sinh xã hội, giao đất lâm nghiệp và chuyển dịch cơ cấu cây trồng thích ứng.

  3. Các tổ chức phi chính phủ và quỹ bảo tồn quốc tế: Tiếp cận bức tranh thực tế về nhận thức môi trường của 90 hộ dân nhằm thiết kế các dự án tài trợ sinh kế xanh và bảo tồn loài nguy cấp với ngân sách mục tiêu sát thực tế.

  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Môi trường: Tham khảo khung phương pháp luận kết hợp công thức chọn mẫu Slovin, kỹ thuật phân tích SPSS 22.0 và quy trình điều tra xã hội học lâm nghiệp làm tài liệu học thuật giá trị.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao nhận thức của người dân vùng đệm giữ vai trò quyết định đối với Vườn quốc gia Cát Tiên?

Cộng đồng vùng đệm gồm 15.459 nhân khẩu sinh sống sát ranh giới rừng. Mọi hành vi như dùng thuốc trừ sâu (chiếm 87,8%) hay săn bắt đều tác động trực tiếp lên 71.187 ha sinh cảnh tự nhiên. Chỉ khi người dân tự giác bảo vệ, nguồn gen quý mới không bị xâm hại.

Tỷ lệ 22% người dân cho rằng hoạt động dân sinh không tác động đến vườn quốc gia phản ánh điều gì?

Con số 22% phản ánh khoảng trống lớn trong công tác truyền thông môi trường. Một bộ phận người dân chưa hiểu rõ mối liên hệ giữa việc xói mòn 27.000 m2 đất rừng do khai thác cát hay ô nhiễm hóa chất với sự suy thoái của 1.729 loài động vật hoang dã.

Hoạt động sử dụng phân bón hóa học đe dọa đa dạng sinh học Cát Tiên như thế nào?

Việc 87,8% hộ dân sử dụng phân bón vô cơ và thuốc diệt cỏ làm dư lượng hóa chất ngấm vào đất, theo suối Đak Lua đổ vào hệ thống Bàu Sấu. Điều này làm suy giảm 130 loài cá nước ngọt và phá hủy chuỗi thức ăn của nhiều loài chim quý hiếm.

Công thức Slovin được áp dụng ra sao để xác định cỡ mẫu trong nghiên cứu này?

Với quy mô tổng thể 15.459 dân và sai số cho phép 10%, công thức Slovin xác định cỡ mẫu tối thiểu là 99,36 người. Tác giả đã quy chuẩn hóa thành 100 mẫu thực tế, bao gồm 90 phiếu phỏng vấn chuẩn hóa và 10 cuộc phỏng vấn chuyên sâu.

Giải pháp sinh kế nào giúp cân bằng giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế?

Mô hình giao khoán quản lý bảo vệ rừng kết hợp phát triển du lịch sinh thái cộng đồng tại Bàu Sấu và các tuyến đi bộ xuyên rừng mang lại hiệu quả cao nhất. Giải pháp này giúp các hộ dân tăng thêm thu nhập từ 20 đến 40 triệu đồng mỗi năm.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện nhận thức bảo tồn của 100 người dân tại 3 xã vùng đệm Vườn quốc gia Cát Tiên bằng phương pháp định lượng chuẩn xác.
  • Nghiên cứu chỉ rõ thực trạng 87,8% hộ nông nghiệp lạm dụng hóa chất và 22% người dân chưa nhận thức được tác động tiêu cực của sinh hoạt dân sinh lên đa dạng sinh học.
  • Xác lập cơ sở khoa học từ ma trận SWOT và phần mềm SPSS 22.0, chỉ ra mối tương quan chặt chẽ giữa học vấn thấp (48,9% trình độ THCS) với hành vi xâm hại tài nguyên rừng.
  • Đề xuất lộ trình 4 nhóm giải pháp đồng bộ gồm tập huấn cộng đồng, chuyển đổi nông nghiệp hữu cơ, giao khoán rừng và tuần tra công nghệ cao giai đoạn 2023-2026.
  • Đóng góp nguồn tư liệu thực chứng quan trọng giúp các nhà quản lý lâm nghiệp xây dựng chính sách phát triển bền vững; các bên liên quan cần nhanh chóng phối hợp hành động để bảo vệ trọn vẹn di sản thiên nhiên Cát Tiên.