Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về cây đậu tương 1. Phân loại học Cây đậu tương có đặc điểm phân loại học như sau: - Giới: Plantae (Thực vật) - Bộ: Fabales (Đậu) - Họ: Fabaceae (Đậu) - Phân họ: Faboideae - Tông: Phaseoleae - Phân tông: Glycininae - Chi: Glycine - Phân chi: Glycine, Soya Chi Glycine từng được Carl Linnaeus đưa ra năm 1737 trong ấn bản đầu tiên của quyển Genera Plantarum. Từ Glycine có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp - glykys (ngọt) và có thể đề cập đến chất ngọt của củ ăn được sản xuất ở Bắc Mỹ có dạng cây đậu thân leo, Glycine apios, nay là Apios americana.
Đậu tương được trồng được xuất hiện đầu tiên trong quyển Species Plantarum của Linnaeus, với tên gọi Phaseolus max L. Việc kết hợp Glycine max (L., theo đề nghị của Merrill năm 1917, đã trở thành tên gọi chính thức được công nhận của loài này. Chi Glycine được chia thành 2 phân chi Glycine và Soja. Phân chi Glycine bao gồm 23 loài hoang dã lâu năm.
Phân chi Soja bao gồm cây đậu tương được trồng trọt là loài Glycine max và cây đậu dại thuộc loài Glycine soja sieb và zucc. Cả hai loài đều là các loài cây hàng năm. Glycine soja là tổ tiên hoang dại của Glycine max, và chúng mọc hoang ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, và Nga. Phân chi Glycine bao gồm nhiều loài cây dại lâu năm, ví dụ như Glycine canescensvà Glycine tomentella, Glycine clandestina, Glycine falcata.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sơ lược đặc điểm hình thái và phân bố một số loài thuộc chi Glycine * Glycine falcata Glycine falcata được Mies và Hmowitz phân loại năm 1973. Loài này có nguồn gốc từ Úc, thân có thể bò sát mặt đất hoặc thẳng với lông cứng. Bản lá hơi rộng hình thuôn.
Chùm hoa dài, mập với màu sắc trắng tới màu hoa cà nhạt. Quả cong hình lưỡi liềm, rộng bản, có nhiều lông cứng, với hạt hình thuôn hoặc ô van. Glycine falcata khác với các loài khác ở tập tính sinh trưởng, sự phân bố của dải protein ở hạt và không có lớp màng ở vỏ hạt [2]. * Glycine latifolia Glycine latifolia có nguồn gốc từ Úc, thân khỏe bò sát hoặc đôi khi leo.
Phiến lá rộng có răng cưa, chùm hoa dài, mảnh, màu tím, quả ngắn, nhiều lông tơ hoặc cứng, được Newell và Hymowitz phân loại năm 1980 [2]. * Glycine tatrobeana Glycine tatrobeana được bentham phân loại năm 1864. Loài này phân bố ở Úc, cây nhỏ thân cứng, bò sát đất hoặc đôi khi leo, phiến lá hình bán cầu. Hoa to hơn Glycine clandestina nhưng quả tương tự [2].
* Glycine canescens Glycine canescens chỉ phân bố ở Úc, loài thân leo, phiến lá nhỏ dài, gân lá có gai, thân có lông hơi cứng, màu trắng xám. Hoa màu hồng, có mùi thơm, quả thẳng. Hạt hình chữ nhật đôi khi bẹt [2]. * Glycine tabacina Glycine tabacina tìm thấy ở Úc, Trung Quốc, đảo Nam Thái Bình Dương của New Caladonia, Vanuati, Fifi, Toga và Newe, vùng trung Tây Thái Bình dương, Ruykyu, đảo Mariana.
Thân của loài này có thể bò hoặc leo, phiến lá có răng cưa. Những lá ở đốt phía trên có hình ô van bản hẹp, những lá ở đốt phía dưới thường rộng bản hơn. Chùm hoa thường dài hơn chùm hoa của Glycine clandestina, màu tím đậm, có mùi thơm. Quả cứng, dài, với hạt màu nâu hoặc đen [2].
* Glycine tomentella Glycine tomentella phân bố ở Úc, Trung Quốc, Tân Ghine, Philippines và Đài Loan. Thân cỏ bò hoặc leo có nhiều lông tơ. Lá thường có hình ô van, có gai nhỏ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Cuống hoa ngắn, hoa thường tập trung nhiều ở phía ngọn hơn các loài khác.
Hoa màu tím đậm đến tím nhạt. Quả thẳng, cứng và có vết lõm giữa các hạt. Hạt có màu nâu hoặc đen [2]. * Glycine soja Sieb và Zucc Glycine soja phân bố ở Trung Quốc, Liên Bang Nga, Triều Tiên, Nhật Bản và Đài Loan.
Nó có thể mọc ở ruộng, bờ rào, dọc đường, bờ sông. Là cây hàng năm, thân bò hoặc leo, lá chét có lông cứng, màu nâu, với hình ô van dài. Hoa có màu tím hoặc đôi khi có màu trắng. Cuống hoa mảnh và ngắn.
Quả ngắn, có nhiều lông cứng, hạt hình ô van dài. Những kết quả nghiên cứu về tế bào học, hình thái học, chứng tỏ rằng Glycine soja là tổ tiên hoang dại của đậu tương trồng [2]. * Glycine max Glycine max là loài đậu tương trồng hàng năm, không phát hiện thấy ở loài hoang dại. Dựa trên những bằng chứng về lịch sử, địa lý và khảo cổ học đều công nhận rằng đậu tương có nguyên sản ở châu Á và được thuần hoá ở Trung Quốc qua nhiều triều đại tiền phong kiến và được đưa vào trồng trọt và khảo sát có thể trong triềuđại Shang (năm 1700-1100 B.C) trước công nguyên [1], [2].
Thân cây thẳng, ít phân cành, dạng bụi, xẻ lá chét lông chim. Phiến lá hình ô van hoặc ô van - elip. Chùm hoa có cuống ngắn, hoa màu tím hoặc trắng. Quả thẳng hoặc cong thường có nhiều lông.
Mỗi quả thường có 1 tới 3 hạt, hình tròn hoặc cầu. Vỏ hạt có màu biến đổi từ vàng sáng đến nâu, đen, xanh. Trọng lượng 100 hạt từ 10-20 g [1]. Giá trị của cây đậu tương Từ lâu, nhiều loài thuộc chi Glycine đã được con người biết đến sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, như làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi hay trong các bài thuốc dân gian.
Tuy nhiên, hiện nay loài Glycine max là loài đậu tương được trồng phổ biến và cho giá trị kinh tế cao nhất. Thành phần dinh dưỡng trong hạt đậu tương Glycine max chứa 18% dầu, 38% protein, 12-25% lipit, 10-15% gluxit; có các muối khoáng Ca, Fe, Mg, P, K, Na, S; các vitamin A, B1, B2, D, E, F; các enzyme, sáp, nhựa, cellulose. Chứa các axit amin cơ bản: isoleucin, leucin, lysin, metionin, phenylalanin, tryptophan, valin. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Ngoài ra, còn chứa các axit amin không thay thế cần thiết cho cơ thể và là một trong những loài thực vật cung cấp protein hoàn chỉnh có chất lượng tương đương với protein động vật [2], [19].
Hạt của loài này được sử dụng trong nhiều món ăn châu Á bao gồm súp, salad và được chế biến thành các sản phẩm thực phẩm đa dạng, bao gồm sữa đậu nành, bánh đậu nành lên men (đậu phụ và tempeh), nước tương, tương miso [19]. Bột làm từ đậu tương được sử dụng trong nhiều loại thực phẩm chế biến, như một chất ổn định và tăng hàm lượng protein. Dầu chiết xuất từ hạt (dầu đậu nành) được sử dụng rộng rãi trong nấu ăn (margarine, shortening, salad) cũng như trong ngành dược, mỹ phẩm và các sản phẩm phục vụ cho ngành công nghiệp (sơn, mực in, xà phòng, chất khử trùng và linoleum). Dầu đậu tương còn được sử dụng trong sản xuất nhiên liệu sạch như xăng sinh học.
Ngoài ra, bột đậu tương sau khi chiết xuất dầu được sử dụng để làm xơ, chất kết dính, hoặc làm thức ăn chăn nuôi. Đậu tương còn là một loại cây trồng phủ đất, phân xanh [2]. Tổng quan về phân loại phân tử 1. Giới thiệu về phân loại phân tử Phân loại học là ngành khoa học về mô tả và sắp xếp quan hệ phát sinh loài và các quan hệ giữa các loài, chi và họ tuân theo những quy định của các hệ thống phân loại nhân tạo và tự nhiên và những Luật quốc tế về danh pháp.
Ðể phân loại sinh vật, phương pháp cổ điển được sử dụng phổ biến nhất là phân loại hình thái, dựa vào sự khác biệt về hình thái của các cơ quan sinh sản và sinh dưỡng, phương pháp này đã xây dựng được một hệ thống phân loại sinh vật nói chung và thực vật nói riêng tương đối đầy đủ và toàn diện. Ngoài ra còn có các phương pháp khác như: Giải phẫu so sánh, cổ thực vật học, sinh hoá học, phương pháp miễn dịch. Hoặc có sự kết hợp giữa các phương pháp để đưa ra kết quả chính xác, các mẫu sẽ được nhận diện bằng các đặc tính hình thái bên ngoài và các đặc tính sinh lý sinh hóa bên trong nhờ vào bảng hướng dẫn định danh có sẵn. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp rất khó để nhận biết như mẫu vật chưa phát triển đầy đủ các đặc tính hình thái bên ngoài, hoặc chúng bị dập nát, hư hỏng các bộ phận, hoặc mẫu vật bị chết, thậm chí là không thể hoặc khó nhận Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 biết do có nhiều điểm tương đồng ở bậc phân loại thấp như loài và dưới loài.
Trong những trường hợp này phân loại phân tử bằng mã vạch DNA sẽ là phương pháp giúp giải quyết vấn đề trên, vì trình tự DNA dễ dàng thu nhận từ một mẫu mô nhỏ. Ngoài ra nó còn được ứng dụng để kiểm tra thành phần thảo dược trong thực phẩm chức năng hay độ tinh khiết của các sản phẩm sinh học. Hơn nữa, mã vạch DNA còn đóng góp thêm một ý nghĩa khác ngoài ý nghĩa giúp định danh mẫu vật, nó còn giúp quá trình phân tích tiến hóa sinh học của loài vật đó trong tự nhiên. Khái niệm mã vạch DNA được Paul Heber, nhà nghiên cứu tại đại học Guelph, Ontario đưa ra lần đầu tiên vào năm 2003 [14], nhằm giúp nhận diện các mẫu vật.
Mã vạch DNA sử dụng một trình tự DNA ngắn (400 - 800 bp) nằm trong bộ gen của sinh vật như là một chuỗi ký tự duy nhất giúp phân biệt hai loài sinh vật với nhau, nó tương tự như máy quét trong siêu thị đọc hai mã vạch của hai sản phẩm mà nhìn bên ngoài chúng rất giống nhau nhưng thực sự là khác nhau. Bài báo nghiên cứu của Hebert được coi là ví dụ đầu tiên về phân loại phân tử động vật, dùng đoạn DNA ty thể cytochrome oxidase tiểu đơn vị 1 (CO1). Nghiên cứu thành công này sớm được ứng dụng để xác định loài của các nhóm động vật khác như chim, cá, động vật có vú, động vật lưỡng cư và loài bò sát, mã vạch DNA không chỉ giúp xác định các động vật, thực vật hay các sinh vật sống khác mà nó còn được sử dụng trong kiểm nghiệm thành phần các loại thuốc thảo dược được thương mại hóa trên thị trường, mở ra 1 hướng ứng dụng mới của sinh học phân tử [9]. Một mã vạch DNA cần phải đáp ứng được các yêu cầu sau : 1.