Phần mở đầu). Cơ sở lý luận về đo lƣờng đánh giá 1. Lý thuyết về đo lường đánh giá trong giáo dục Trong khi các nước khác trên thế giới đã quan tâm chú trọng đến đánh giá trong giáo dục cách đây vài thế kỷ thì vấn đề này mới được phát triển ở Việt Nam mấy thập kỷ trở lại đây. Giáo dục Việt Nam từ xưa đến nay chú trọng vào dạy kiến thức là chính, dẫn đến việc HS, SV rất ngại học hành thi cử, dẫn đến tình trạng nhiều lúc học chỉ để đối phó với các kỳ thi.
Sinh viên ở các nước có nền giáo dục tiên tiến lại xem việc học, khám phá kiến thức là vui và bổ ích vì người học được tự do tìm tòi và phát biểu, giáo viên đóng vai trò hướng dẫn và định hướng. Chính vì vậy, để theo kịp sự phát triển của thế giới ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về mục đích và phương pháp của kiểm tra, đánh giá và tâm lý người học. Cụ thể hơn là các nghiên cứu về đánh giá năng lực người học nhằm đánh giá chính xác kết quả học tập của người học. Trước hết, mục đích đánh giá đầu tiên là để giúp sinh viên biết được kết quả học tập của mình, giúp sinh viên điều chỉnh lại những phương pháp học tập không phù hợp, hoặc phát triển, tìm tòi những cách học mới mà các em có hứng thú hơn.
Tiếp đến, việc kiểm tra đánh giá còn hỗ trợ cho giáo viên (những người trực tiếp thực hiện công việc giảng dạy) về kết quả áp dụng một phương pháp giảng dạy nào đó. Cuối cùng, việc kiểm tra đánh giá còn giúp 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phân loại thành tích, sự tiến bộ của người học, tạo động cơ, kích thích, thúc đẩy quá trình học tập của SV. Trái lại với mong muốn của các nhà giáo dục, SV lại quan niệm đánh giá là để xác định động cơ học tập. Tại sao? Khi nào và học như thế nào.
Hầu hết sinh viên nghĩ: Tất cả những gì họ đang làm trong lớp học như viết bài luận hay bài kiểm tra không có liên quan gì đến cuộc sống thực tế. Kết luận được rút ra là: “Sinh viên có thể tránh các thầy cô dạy dở, nhưng không tránh được các bài tập kiểm tra đánh giá tồi và nếu chúng ta muốn thay đổi cách học của học sinh, sinh viên, chúng ta hãy thay đổi cách đánh giá của mình.”[11] Một số thuật ngữ đã trở nên quen thuộc trong ngành đo lường và đánh giá trong giáo dục được tác giả Phạm Xuân Thanh (2011) [14]định nghĩa như sau: Đề thi, kiểm tra (test, exam): Là công cụ hoặc quy trình, qua đó thể hiện các yêu cầu cụ thể đối với các hoạt động thi, kiểmtra. Thi, kiểm tra: Là quá trình người học thực hiện một yêu cầu dưới dạng một đề thi, kiểm tra, qua đó thể hiện được năng lực của mình. Đo lƣờng (measurement): Là hoạt động thông qua việc thi, kiểm tra để xác định mức độ người học nắm được kiến thức của một/một số môn học hoặc mức độ hiểu biết về một vấn đề nào đó, hay khả năng hoàn thành công việc được giao phó.
Kết quả thể hiện dưới dạng một đại lượng định lượng. Ở đây, chủ yếu đề cập đến đánh giá trong giáo dục. Đánh giá (evaluation): Là việc phân tích, lý giải các kết quả đo lường. Đánh giá (evaluation) được thực hiện dựa trên các kết quả đo lường.
Lý thuyết đo lường đánh giá là một lý thuyết nghiên cứu các cấu trúc tâm lý bằng cách gán các giá trị định lượng cho một mẫu hành vi, mà các giá trị đó 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thu thập được nhờ sử dụng các công cụ đo lường đánh giá, ví dụ như các bài thi, kiểm tra, các quan sát, phỏng vấn, điều tra. Cấu trúc tâm lý được xem là một đại lượng về các thuộc tính tâm lý được xác định gián tiếp bằng các công cụ đo như các bài thi, kiểm tra, các quan sát, phỏng vấn, điều tra. đây là đại lượng ẩn, không thể nhận biết bằng các giác quan thông thường của conngười. Có lẽ nhiều người đều hiểu rằng giáo dục mà không có thi - kiểm tra, không có đánh giá thì không có giáo dục theo đúng nghĩa của nó.
Theo Popham (1999)[17], thi - kiểm tra, đánh giá học sinh nhằm: Dự đoán những điểm mạnh và điểm yếu của học sinh để giáo viên tránh giảng dạy lại hoặc giảng dạy quá kỹ những điều học sinh đã biết và giáo viên có cơ hội giúp học sinh khắc phục những yếu kém của học sinh; Giám sát quá trình tiến bộ của học sinh và giúp giáo viên thấy được sự tiến bộ đó có tương xứng với mục tiêu đã đề ra hay không; - Giúp giáo viên có cơ sở cho điểm hay xếp loại học sinh; - Xác định tính hiệu quả của chương trình học tập và cung cấp thông tin phản hồi cho các nhà quản lý và những người thiết kế chươngtrình; - Khẳng định với xã hội về chất lượng và hiệu quả giáo dục; - Hỗ trợ việc đánh giá giáo viên thông qua kết quả giảng dạy của họ. Chức năng chính của đánh giá là nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh và giúp các nhà quản lý có thông tin để đưa ra những quyết định kịp thời. Nếu xem chất lượng của quá trình dạy - học là sự “trùng khớp với mục tiêu” thì kiểm tra - đánh giá là cách tốt nhất để đánh giá chất lượng của quy trình đào tạo.[10] 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Mô hình quá trình đào tạo KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ Các nhà giáo dục đã chia cấu trúc hành vi nhận thức thành cấu trúc năng lực (competence) và cấu trúc kết quả học tập (achivement). Năng lực là những khả năng mà học sinh có được qua đào tạo và bằng kinh nghiệm cuộc sống, qua công việc để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể.
Còn kết quả học tập là những nhận thức được cấu thành từ những kiến thức và kỹ năng mà học sinh thu được trực tiếp ở một khoá học. Trong giáo dục, tùy theo mục đích sử dụng mà các câu hỏi cũng được phân chia thành hai nhóm: để đo lường, đánh giá kiến thức hay để đo lường, đánh giá kỹ năng. Phân loại câu hỏi dùng để đo lường và đánh giá trong giáo dục Dạng câu hỏi trắc nghiệm Dạng câu hỏi tự luận Câu hỏi nhằm mục đích đo lường, đánh giá kiến thức *Đa lựa chọn *Điền câu trảlời *Ghép đôi *Tự luận trả lờingắn *Lựa chọn đúng sai *Tự luận trả lờidài *Bộ câu hỏi dựa vào hoàn cảnh cụ thể *Tự luậnmiệng *Tự luận làm ởnhà Câu hỏi nhằm mục đích đo lường, đánh giá kỹ năng *Bộ câu hỏi dựa vào hoàn cảnh cụ thể *Câu hỏi yêu cầu thao tác hay trình diễn 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Lý thuyết đánh giá cổ điển Lý thuyết đánh giá cổ điển chủ yếu dựa vào các tính toán thống kê, trong đó điểm thi của thí sinh được xác định bằng phương trình cơ bản sau: xi= ti + ei Trong đó: xi là điểm làm bài test của thí sinh I ti là điểm thực của thí sinh i ei là sai số Sai số được giả thiết là đại lượng ngẫu nhiên.
Sai số, đôi khi có thể lớn, nhỏ, có thể có giá trị âm hoặc dương, sai số hệ thống được bỏ qua. Những bài test đồng nhất là những bài test đo cùng một đại lượng và bao gồm những câu hỏi tương tự. Như vậy, với một số test đồng nhất: Điểm thực của mỗi thí sinh trong hai bài test phải tương đương nhau Phương sai của điểm quan sát được (điểm làm bài) của thí sinh trong hai bài test cũng phải tương đương nhau Tương quan của điểm làm bài của thí sinh trong hai bài test bất kỳ phải có cùng một giá trị. Lý thuyết đánh giá hiện đại Đại lượng cần đo được mô tả như một đường thẳng hoặc đường cong; kết quả đo lường là một điểm đặt trên đường đó.
Do đó, đại lượng cần đo được giả định là phân bố liên tục, tuy nhiên chưa chỉ ra một dạng phân bố cụ thể nào. Điều kiện cốt yếu để thí sinh trả lời được câu hỏi được xem xét qua hai đại lượng: Năng lực của thí sinh (tham biến năng lực hay tham biến thí sinh) Độ khó của câu hỏi (tham biến độ khó hay tham biến câu hỏi) Năng lực của thí sinh và độ khó của câu hỏi là những đại lượng được phân bố trên đường đặc trưng cótính liên tục bao gồm các giá trị của đại lượng cần đo. Thông thường, với các câu hỏi được sử dụng để định cỡ, thì độ khó của các câu hỏi giữ vai trò thang giá trị thể hiện dọc theo đường đặc trưng của đại lượng cần đo. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lý thuyết đánh giá hiện đại quan tâm đến xác suất trả lời đúng đối với một câu hỏi.
Xác suất đó được thể hiện là một hàm số của năng lực thí sinh và độ khó câu hỏi và có thể có thêm một số tham biến khác (ví dụ: mức độ đoán mò). Những hàm số xác suất khác nhau (thể hiện mối quan hệ giữa năng lực thí sinh và độ khó câu hỏi) dẫn đến những mô hình Lý thuyết đánh giá hiện đại khác nhau, ví dụ: Mô hình logistic đơn giản, Mô hình hai tham biến, Mô hình ba tham biến của Birnbaum, Mô hình partialcredit. Các kết quả làm bài của thí sinh (kết quả trả lời câu hỏi) có được sau khi tổ chức làm một bài test được sử dụng để tính tham biến năng lực và độ khó. Phương pháp sử dụng để tính các tham biến đó là phương pháp có khả năng tối đa (Maximum likelihood).
Đường cong đặc trưng đối với một câu hỏi theo Mô hình Rasch 1. Khái niệm năng lực 1. Một số khái niệm cơ bản về năng lực Năng lực học tập là cụm từ gần đây được sử dụng rất nhiều trong giáo dục. Rất nhiều người còn nhầm lẫn hoặc khó phân biệt giữa năng lực chung và các năng lực cụ thể.
Theo đó năng lực được định nghĩa theo Hướng dẫn phát triển tài liệu tập huấn đánh giá năng lực của Khối cộng đồng chung Australia (2003) rằng “Năng lực (competency) không chỉ là việc miêu tả một nhiệm vụ hoặc hành động học tập. Nó bao hàm việc đo lường khả năng tiềm 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ẩn của học sinh và đo lường kiến thức, kỹ năng, và thái độ cần có để thực hiện một nhiệm vụ học tập tới một chuẩn nào đó được yêu cầu”.