Đánh giá năng lực sáng tạo trong thiết lập văn bản nghị luận của học sinh trung học phổ thông

Chuyên khảo phân tích Đánh giá năng lực sáng tạo trong thiết lập văn bản nghị luận của học sinh trung học phổ thông, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2021

221
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Giả thuyết khoa học

1.7. Những đóng góp mới của luận án

1.8. Cấu trúc luận án

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC SÁNG TẠO TRONG TẠO LẬP VĂN BẢN NGHỊ LUẬN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.1.1. Những nghiên cứu về năng lực sáng tạo

1.1.2. Những nghiên cứu về đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản

1.1.3. Quan niệm về năng lực sáng tạo và năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận

1.1.3.1. Năng lực sáng tạo
1.1.3.2. Năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh trung học phổ thông

1.1.4. Đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh trung học phổ thông

1.2. Cơ sở thực tiễn

1.2.1. Đối tượng tham gia khảo sát

1.2.1.1. Đối tượng giáo viên tham gia khảo sát
1.2.1.2. Đối tượng học sinh tham gia khảo sát

1.2.2. Kết quả điều tra khảo sát

1.2.2.1. Thực trạng nhận thức và tổ chức đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của giáo viên Ngữ văn trung học phổ thông
1.2.2.2. Thực trạng nhận thức và thực hiện các yêu cầu đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh trung học phổ thông

1.2.3. Một số đề kiểm tra/đề thi môn Ngữ văn cấp trung học phổ thông của Việt Nam và môn học tương đương ở một số nước và tổ chức quốc tế

1.2.3.1. Về đề kiểm tra/đề thi môn Ngữ văn của Việt Nam và những định hướng đổi mới ra đề kiểm tra/đề thi môn Ngữ văn trong CTGDPT 2018
1.2.3.2. Một số đề kiểm tra/đề thi môn Ngữ văn cấp hoặc môn học tương đương ở một số nước và tổ chức quốc tế

2. CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG CHUẨN ĐÁNH GIÁ VÀ CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC SÁNG TẠO TRONG TẠO LẬP VĂN BẢN NGHỊ LUẬN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.1. Một số định hướng và căn cứ xây dựng chuẩn đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh Trung học Phổ thông

2.1.1. Một số định hướng trong việc xây dựng chuẩn đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh Trung học phổ thông

2.1.2. Đảm bảo phù hợp với thực tiễn dạy tạo lập văn bản viết ở trường Trung học phổ thông

2.1.3. Đảm bảo tính vừa sức và tạo sức trong dạy học đối với học sinh Trung học phổ thông

2.1.4. Chú trọng tới từng thành tố của năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận

2.1.5. Chú trọng tới tiến trình viết văn bản nghị luận để khuyến khích học sinh làm ra sản phẩm sáng tạo

2.1.6. Những căn cứ để xây dựng chuẩn đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh Trung học phổ thông

2.2. Chuẩn đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh Trung học phổ thông

2.2.1. Phác thảo Chuẩn đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh Trung học phổ thông

2.2.2. Phác thảo Chuẩn đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận xã hội

2.2.3. Phác thảo Chuẩn đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận văn học

2.3. Xây dựng câu hỏi mở nhằm đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh trung học phổ thông

2.3.1. Thiết kế câu hỏi mở trong đánh giá thường xuyên nhằm đánh giá các thành tố năng lực sáng tạo của học sinh trung học phổ thông trong quá trình thực hành tạo lập văn bản nghị luận

2.3.2. Câu hỏi mở đánh giá năng lực sáng tạo trong đề xuất ý tưởng

2.3.3. Câu hỏi đánh giá năng lực sáng tạo trong thực hiện giải pháp để tổ chức nội dung bài văn nghị luận

2.3.4. Đánh giá năng lực sáng tạo trong trình bày

2.3.5. Đề mở trong đánh giá định kỳ nhằm đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh trung học phổ thông

2.3.5.1. Quy trình thiết kế đề mở trong đánh giá định kỳ

2.3.6. Xây dựng đề kiểm tra định kỳ nhằm đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh trung học phổ thông

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích thực nghiệm

3.2. Nội dung, đối tượng và địa bàn thực nghiệm

3.3. Thời gian thực nghiệm

3.4. Quy trình thực nghiệm

3.4.1. Trao đổi với giáo viên trước khi thực nghiệm

3.4.2. Tổ chức kiểm tra đánh giá năng lực đầu vào

3.4.3. Tổ chức kiểm tra đánh giá thường xuyên

3.4.4. Tổ chức kiểm tra đánh giá năng lực đầu ra

3.4.5. Xử lý kết quả thực nghiệm

3.4.6. Phân tích kết quả thực nghiệm

3.4.7. Đánh giá kết quả thực nghiệm

3.4.8. Tiêu chí đánh giá

3.4.9. Kết quả đánh giá thực nghiệm về mặt định lượng

3.4.10. Kết quả đánh giá thực nghiệm về mặt định tính

3.4.11. Về đề mở đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập VBNL của HS THPT

3.4.12. Về đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập VBNL của HS THPT

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC PL1

Tóm tắt

I. Tổng quan về đánh giá năng lực sáng tạo văn bản nghị luận học sinh

Đánh giá năng lực sáng tạo trong việc tạo lập văn bản nghị luận của học sinh trung học phổ thông là một vấn đề quan trọng trong giáo dục hiện đại. Năng lực sáng tạo không chỉ giúp học sinh phát triển tư duy mà còn là yếu tố quyết định trong việc hình thành nhân cách và khả năng giải quyết vấn đề. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hương Lan, việc đánh giá năng lực sáng tạo cần được thực hiện một cách toàn diện và khoa học, nhằm phát huy tối đa khả năng của học sinh.

1.1. Khái niệm năng lực sáng tạo trong văn bản nghị luận

Năng lực sáng tạo trong văn bản nghị luận được hiểu là khả năng của học sinh trong việc phát triển ý tưởng, lập luận và trình bày quan điểm một cách độc đáo và thuyết phục. Điều này không chỉ đòi hỏi kiến thức mà còn cần sự linh hoạt trong tư duy và khả năng phân tích sâu sắc.

1.2. Tầm quan trọng của việc đánh giá năng lực sáng tạo

Việc đánh giá năng lực sáng tạo giúp giáo viên nhận diện được khả năng của học sinh, từ đó có những phương pháp giảng dạy phù hợp. Nó cũng khuyến khích học sinh phát triển tư duy độc lập và khả năng tự học, điều này rất cần thiết trong bối cảnh giáo dục hiện đại.

II. Những thách thức trong đánh giá năng lực sáng tạo văn bản nghị luận

Mặc dù việc đánh giá năng lực sáng tạo là cần thiết, nhưng thực tế vẫn gặp nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự thiếu hụt công cụ đánh giá phù hợp. Nhiều giáo viên vẫn còn sử dụng các phương pháp đánh giá truyền thống, không khuyến khích sự sáng tạo của học sinh.

2.1. Thiếu công cụ đánh giá hiệu quả

Nhiều giáo viên chưa được trang bị đầy đủ công cụ và phương pháp để đánh giá năng lực sáng tạo. Điều này dẫn đến việc đánh giá không chính xác và không phản ánh đúng khả năng của học sinh.

2.2. Áp lực từ chương trình học

Chương trình học hiện tại vẫn còn nặng về lý thuyết, khiến học sinh không có đủ thời gian và không gian để phát triển năng lực sáng tạo. Điều này cần được điều chỉnh để phù hợp hơn với yêu cầu thực tiễn.

III. Phương pháp đánh giá năng lực sáng tạo trong văn bản nghị luận

Để đánh giá năng lực sáng tạo một cách hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp đa dạng và linh hoạt. Việc sử dụng câu hỏi mở và các bài tập thực hành sẽ giúp học sinh thể hiện khả năng sáng tạo của mình.

3.1. Sử dụng câu hỏi mở trong đánh giá

Câu hỏi mở giúp học sinh tự do thể hiện ý tưởng và quan điểm cá nhân. Điều này không chỉ khuyến khích sự sáng tạo mà còn giúp giáo viên đánh giá chính xác hơn năng lực của học sinh.

3.2. Tổ chức các hoạt động thực hành

Các hoạt động thực hành như thảo luận nhóm, viết bài luận và trình bày sẽ tạo cơ hội cho học sinh phát triển năng lực sáng tạo. Những hoạt động này cũng giúp giáo viên có cái nhìn tổng quan về khả năng của học sinh.

IV. Ứng dụng thực tiễn trong đánh giá năng lực sáng tạo

Việc áp dụng các phương pháp đánh giá năng lực sáng tạo trong thực tiễn đã cho thấy nhiều kết quả tích cực. Học sinh không chỉ cải thiện kỹ năng viết mà còn phát triển tư duy phản biện và khả năng giao tiếp.

4.1. Kết quả từ các nghiên cứu thực nghiệm

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hương Lan cho thấy rằng việc áp dụng các phương pháp đánh giá mới đã giúp học sinh nâng cao khả năng sáng tạo trong việc viết văn. Học sinh có xu hướng tự tin hơn khi trình bày ý tưởng của mình.

4.2. Phản hồi từ giáo viên và học sinh

Phản hồi từ giáo viên cho thấy rằng việc đánh giá năng lực sáng tạo đã giúp họ hiểu rõ hơn về học sinh. Học sinh cũng cảm thấy hứng thú hơn với việc học khi được khuyến khích thể hiện bản thân.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai

Đánh giá năng lực sáng tạo trong văn bản nghị luận là một nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục hiện đại. Cần có những cải cách mạnh mẽ trong phương pháp đánh giá để phù hợp với yêu cầu phát triển năng lực của học sinh.

5.1. Định hướng phát triển trong giáo dục

Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các công cụ đánh giá mới, phù hợp với xu hướng giáo dục hiện đại. Điều này sẽ giúp nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh.

5.2. Tầm quan trọng của sự hợp tác

Sự hợp tác giữa giáo viên, học sinh và phụ huynh là rất quan trọng trong việc phát triển năng lực sáng tạo. Cần tạo ra một môi trường học tập tích cực, khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu (xác định giả thuyết, ý tưởng sáng tạo xuất hiện), diễn biến (nghiên cứu) và kết thúc (tạo ra kết quả). Trong quá trình sáng tạo con người phải cân nhắc, đánh giá những điều kiện khách quan, chủ quan, khám phá tìm tòi ra những giả thuyết rồi thử đi thử lại (kiểm tra các giả thuyết) và cuối cùng trực tiếp hay gián tiếp tìm ra kết quả. Theo ông, để đo tính sáng tạo căn cứ vào bốn thuộc 7 tính (chỉ số) của nó như: nhanh nhạy (fluency), linh hoạt (flexibility), tỉ mỉ (elaboration), độc đáo (originality). Ông cho rằng bất kể con người nào cũng có tiềm năng sáng tạo, chỉ có mức độ khác nhau mà thôi, khi có điều kiện thì tiềm năng ấy được bộc lộ ra một cách thuận lợi và phát triển tốt.

Trong “Trí tưởng tượng sáng tạo ở lứa tuổi thiếu nhi”, Vưgotxki [45] đã đưa ra nhận định: “Nếu chúng ta nhìn vào hành vi con người, có hai loại hình hoạt động cơ bản: tái hiện và sáng tạo. Loại hình sáng tạo được hiểu là bất cứ hoạt động nào của con người mà kết quả không chỉ là sự tái hiện những ấn tượng hoặc hành động đã có trong kinh nghiệm của nó, mà tạo nên những hình tượng hay hành động mới. Ta cần xem xét sự sáng tạo như một quy luật hơn là một ngoại lệ”. Ông khẳng định sự sáng tạo có mặt trong mọi lĩnh vực của thế giới vật chất và tinh thần và trong tất cả các hình thức sáng tạo thì sáng tạo văn học, sáng tạo bằng ngôn từ là tiêu biểu nhất cho lứa tuổi HS.

Bên cạnh đó ông rút ra nhiều kết luận sư phạm giúp HS sáng tạo trong việc tạo lập văn bản như: cách ra đề tạo điều kiện cho các em chọn lựa, tập cho trẻ chỉ viết những gì mà mình biết rõ, những gì mà các em đã suy nghĩ nhiều và sâu sắc, giúp HS vui chơi khi sáng tác. Vưgoxki đã phê phán những quan điểm không đúng cho rằng: “sáng tạo là mảnh đất riêng dành cho hững người có tài năng, thiên tài, còn người bình thường không có khả năng đó”. Ông cho rằng ở những nơi con người biết kết hợp cái cũ, tạo ra cái mới đề là sáng tạo. Vì vậy, kiến thức cơ bản vững chắc phải là yếu tố cần thiết cho bồi dưỡng năng lực sáng tạo.

Các tác giả của Liên Xô cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực sáng tạo của con người. Luck nghiên cứu những vấn đề chung về hoạt động sáng tạo, V. Puskin nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của tư duy sáng tạo, mối quan hệ giữa tư duy sáng tạo và hoạt động vô thức, B. Larôsepxki nghiên cứu những vấn đề tâm lý học của hoạt động khoa học, tư duy khoa học, những đặc điểm chung và đặc thù hoạt động phát minh của nhà khoa học, G.

Klosáng tạoul và N. Mensinxkaia phân tích tầm quan trọng của hoạt động sáng tạo và mối quan hệ giữa sáng tạo với quá trình tiếp thu tri thức, X.Vưgôxki nhấn mạnh sự ảnh hưởng qua lại của tư duy và tưởng tượng trong hoạt động sáng tạo. Về TDST trong nhà trường có các công trình nghiên cứu của N.Nhìn chung, các nhà tâm lý học Liên Xô đã đạt được nhiều kết quả trong việc nghiên cứu về vấn đề sáng tạo, quá trình sáng tạo nhân cách sáng tạo, năng lực và phát triển năng lực sáng tạo, tư duy sáng tạo. Việc nghiên cứu về TDST một cách có hệ thống được bắt đầu vào năm 1950.

Người có công lớn là nhà tâm lý học J. Guiford – Giáo sư trường đại học tổng hợp ở miền nam California. Ông đưa ra mô hình về trí tuệ, đã phân định cấu tạo trí tuệ gồm 2 khối cơ bản: trí thông minh và sáng tạo. Ông là người đầu tiên đưa ra các khái niệm: tư 8 duy hội tụ và tư duy phân kì.

Trong đó, tư duy hội tụ (convergent thinking) là kiểu tư duy của người bình thường, kể cả người thông minh, là tư duy theo một chiều hướng đã định sẵn, quen thuộc, rập khuôn. Tư duy phân kì (divergent thinking) là kiểu tư duy rộng ra, tìm ra nhiều lời giải, nhiều phương án vượt ra khỏi khuôn khổ ban đầu. Đây là kiểu tư duy của người sáng tạo. Ông cho rằng, người có TDST là người biết tìm kiếm và thể hiện những phương pháp lôgíc trong tình huống có vấn đề, tìm kiếm những phương pháp khác nhau và mới của việc giải quyết vấn đề, giải quyết nhiệm vụ.

Do đó sáng tạo là một thuộc tính của tư duy, là một phẩm chất của quá trình tư duy. Theo ông, đặc trưng của TDST là tìm kiếm những phương pháp mới, phương pháp lôgíc và những phương pháp khác nhau để giải quyết vấn đề. Ông đã nhấn mạnh ý nghĩa của hoạt động sáng tạo: “thậm chí sáng tạo là chỉ báo quan trọng hơn là trí thông minh về năng khiếu, tiềm năng của một người” và nhận định: “Không có một hiện tượng tâm lý nào bị coi thường trong suốt một thời gian dài và đồng thời lại được quan tâm trở lại một cách bất ngờ như là hiện tượng sáng tạo” [55]. Ở giai đoạn này tiếp tục có những nghiên cứu vấn đề TDST thuộc phạm vi tâm lý học, giáo dục học.

Đã có nhiều nhóm nghiên cứu với các tên tuổi lớn như: Holland (1959), May (1961), Mackinnon D.P Torrance (1965) và một số tác giả người Mỹ như: Barron, Blom, Getzels, Helmholtz,.và một số tác giả của Liên Xô (cũ). Nội dung của các công trình nghiên cứu này chủ yếu đề cập tới một số vấn đề cơ bản của hoạt động sáng tạo như: tiêu chuẩn cơ bản của hoạt động sáng tạo, sự khác biệt giữa sáng tạo và không sáng tạo, bản chất và quy luật của hoạt động sáng tạo, vấn đề phát triển NLST và kích thích hoạt động sáng tạo, những thuộc tính của nhân cách của hoạt động sáng tạo. Thông qua các kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học cho rằng khả năng sáng tạo có ở tất cả mọi người bình thường. Các nhà Tâm lý học còn phát hiện ra phương pháp thử sai và vai trò quan trọng của nhiều yếu tố tâm lí như liên tưởng, linh tính, trí tưởng tượng, tính ì tâm lí,…trong quá trình TDST.

Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về TDST và việc bồi dưỡng, rèn luyện TDST trong dạy học của nhiều tác giả lớn trên thế giới như J.Guilford, Blom, Getzels, L. Trong đó các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) cũng đóng góp được nhiều kết quả trong việc nghiên cứu vấn đề sáng tạo, quá trình sáng tạo, NLST, nhân cách sáng tạo. Một số nhà tâm lý học Tiệp Khắc, Ba lan, Đức, Hunggari,. cũng đã nghiên cứu về vấn đề sáng tạo cả về mặt lý luận và thực nghiệm.

Về chủ đề bồi dưỡng NLST cho HS trong nhà trường có các cuốn sách và bài báo: “Phát triển khả năng sáng tạo trong lớp học” (Penick J.E), “Nghiên cứu về khả năng sáng tạo của HS” (Reid J.), “Những khám phá về TDST ở đầu tuổi học” ( E. Torrance), “ Những sinh viên có tài năng: Xác nhận về sự khác biệt trí thông minh sáng tạo ” (M.Wing), “Vai 9 trò của TDST và trí thông minh trong thành tích học tập” (Yamamoto Kaoru). (theo [28]) Guilford [55] đã đề cập đến đặc điểm nhân cách sáng tạo và biểu diễn nó thành mô hình. Ông cho rằng nhân cách sáng tạo phải có một tổ hợp các đặc điểm và năng lực sau: tính lưu loát, tính mềm dẻo, tính chi tiết, tính độc đoán, tính nhạy cảm vấn đề và sự định nghĩa lại.

Theo Guilford NLST là: “năng khiếu đặc trưng của các cá nhân sáng tạo, ví dụ sự trôi chảy, linh hoạt, độc đáo, tư duy khác biệt”. Torrance [41] lại cho rằng đây là: “một quá trình biến một người nào đó trở nên nhạy cảm với các vấn đề, từ những thiếu sót, rạn nứt trong kiến thức dẫn họ đến kết quả là xác định được vấn đề, tìm ra giải pháp hoặc đưa ra giả định, chấp thuận và kiểm tra các giả thuyết này để sửa đổi chúng nếu cần thiết”. Còn theo William Benn thì những người có NLST có những đặc điểm: “luôn tìm kiếm những cách làm có hiệu quả, họ là những người phá vỡ những giới hạn để tìm ra những giải pháp mới, cách làm mới; họ phát triển trí tò mò và luôn đặt câu hỏi tại sao; họ tạo ra những ý tưởng mới, cách làm mới; họ dám hành động;….” Cuốn Từ điển về SÁNG TẠO của Gorny E (2007) nêu: “sáng tạo được hiểu là khả năng của một con người, của một tổ chức đưa ra những ý tưởng mới, có chất lượng cao và có giá trị cao; là sự tư duy theo cách mới, là sự nhìn thấy vấn đề mới trong các vấn đề cũ. Sáng tạo là sản phẩm của các phẩm chất và năng lực trí tuệ” [56].

Như vậy, khi mà mọi lĩnh vực khoa học khác có những bước phát triển vượt bậc, khi mà sức sáng tạo của con người được thăng hoa thành những thành tựu khoa học vĩ đại, khi mà TDST phát huy được vai trò to lớn của nó đối với sự phát triển thế giới, thì khi đó con người ta mới đặt nhiều câu hỏi về TDST và NLST với mong muốn làm thế nào để phát huy tối đa sức sáng tạo của con người và khoa học sáng tạo mới thực sự được quan tâm nghiên cứu một cách bài bản trên khắp thế giới. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, những hoạt động liên quan đến khoa học về sáng tạo mới thật sự bắt đầu vào thập kỉ 70 của thế kỷ XX, trước đó những hoạt động này còn mang tính tự phát và chưa có tổ chức cao. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về sáng tạo với đội ngũ các nhà nghiên cứu khá hùng hậu. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: “Phương pháp sáng tạo và đổi mới” [9] ; “Rèn luyện kĩ năng công tác độc lập cho HS qua môn toán” [12]; “Rèn luyện khả năng sáng tạo toán học ở nhà trường phổ thông” (Hoàng Chúng); “Khơi dậy tiềm năng sáng tạo” [37]; “Tập cho HS giỏi toán làm quen dần với nghiên cứu toán học” [38]; “Dạy và học cách tư duy” [48]; “Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương” [13]; “Rèn luyện tư duy sáng tạo cho HS qua các giờ làm văn ở nhà trường trung học phổ thông” (Dương 10 Thị Mai Hương); … và một số tác giả khác cũng có công trình nghiên cứu về tư duy sáng tạo như Nguyễn Bá Kim, Vũ Dương Thụy, Nguyễn Kế Hào, Vũ Quốc Chung, Trần Hiệp, Đỗ Long, Tôn Thân, Trần Luận,.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ