mở đầu (xác định giả thuyết, ý tưởng sáng tạo xuất hiện), diễn biến (nghiên cứu) và kết thúc (tạo ra kết quả). Trong quá trình sáng tạo con người phải cân nhắc, đánh giá những điều kiện khách quan, chủ quan, khám phá tìm tòi ra những giả thuyết rồi thử đi thử lại (kiểm tra các giả thuyết) và cuối cùng trực tiếp hay gián tiếp tìm ra kết quả. Theo ông, để đo tính sáng tạo căn cứ vào bốn thuộc 7 tính (chỉ số) của nó như: nhanh nhạy (fluency), linh hoạt (flexibility), tỉ mỉ (elaboration), độc đáo (originality). Ông cho rằng bất kể con người nào cũng có tiềm năng sáng tạo, chỉ có mức độ khác nhau mà thôi, khi có điều kiện thì tiềm năng ấy được bộc lộ ra một cách thuận lợi và phát triển tốt.
Trong “Trí tưởng tượng sáng tạo ở lứa tuổi thiếu nhi”, Vưgotxki [45] đã đưa ra nhận định: “Nếu chúng ta nhìn vào hành vi con người, có hai loại hình hoạt động cơ bản: tái hiện và sáng tạo. Loại hình sáng tạo được hiểu là bất cứ hoạt động nào của con người mà kết quả không chỉ là sự tái hiện những ấn tượng hoặc hành động đã có trong kinh nghiệm của nó, mà tạo nên những hình tượng hay hành động mới. Ta cần xem xét sự sáng tạo như một quy luật hơn là một ngoại lệ”. Ông khẳng định sự sáng tạo có mặt trong mọi lĩnh vực của thế giới vật chất và tinh thần và trong tất cả các hình thức sáng tạo thì sáng tạo văn học, sáng tạo bằng ngôn từ là tiêu biểu nhất cho lứa tuổi HS.
Bên cạnh đó ông rút ra nhiều kết luận sư phạm giúp HS sáng tạo trong việc tạo lập văn bản như: cách ra đề tạo điều kiện cho các em chọn lựa, tập cho trẻ chỉ viết những gì mà mình biết rõ, những gì mà các em đã suy nghĩ nhiều và sâu sắc, giúp HS vui chơi khi sáng tác. Vưgoxki đã phê phán những quan điểm không đúng cho rằng: “sáng tạo là mảnh đất riêng dành cho hững người có tài năng, thiên tài, còn người bình thường không có khả năng đó”. Ông cho rằng ở những nơi con người biết kết hợp cái cũ, tạo ra cái mới đề là sáng tạo. Vì vậy, kiến thức cơ bản vững chắc phải là yếu tố cần thiết cho bồi dưỡng năng lực sáng tạo.
Các tác giả của Liên Xô cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực sáng tạo của con người. Luck nghiên cứu những vấn đề chung về hoạt động sáng tạo, V. Puskin nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của tư duy sáng tạo, mối quan hệ giữa tư duy sáng tạo và hoạt động vô thức, B. Larôsepxki nghiên cứu những vấn đề tâm lý học của hoạt động khoa học, tư duy khoa học, những đặc điểm chung và đặc thù hoạt động phát minh của nhà khoa học, G.
Klosáng tạoul và N. Mensinxkaia phân tích tầm quan trọng của hoạt động sáng tạo và mối quan hệ giữa sáng tạo với quá trình tiếp thu tri thức, X.Vưgôxki nhấn mạnh sự ảnh hưởng qua lại của tư duy và tưởng tượng trong hoạt động sáng tạo. Về TDST trong nhà trường có các công trình nghiên cứu của N.Nhìn chung, các nhà tâm lý học Liên Xô đã đạt được nhiều kết quả trong việc nghiên cứu về vấn đề sáng tạo, quá trình sáng tạo nhân cách sáng tạo, năng lực và phát triển năng lực sáng tạo, tư duy sáng tạo. Việc nghiên cứu về TDST một cách có hệ thống được bắt đầu vào năm 1950.
Người có công lớn là nhà tâm lý học J. Guiford – Giáo sư trường đại học tổng hợp ở miền nam California. Ông đưa ra mô hình về trí tuệ, đã phân định cấu tạo trí tuệ gồm 2 khối cơ bản: trí thông minh và sáng tạo. Ông là người đầu tiên đưa ra các khái niệm: tư 8 duy hội tụ và tư duy phân kì.
Trong đó, tư duy hội tụ (convergent thinking) là kiểu tư duy của người bình thường, kể cả người thông minh, là tư duy theo một chiều hướng đã định sẵn, quen thuộc, rập khuôn. Tư duy phân kì (divergent thinking) là kiểu tư duy rộng ra, tìm ra nhiều lời giải, nhiều phương án vượt ra khỏi khuôn khổ ban đầu. Đây là kiểu tư duy của người sáng tạo. Ông cho rằng, người có TDST là người biết tìm kiếm và thể hiện những phương pháp lôgíc trong tình huống có vấn đề, tìm kiếm những phương pháp khác nhau và mới của việc giải quyết vấn đề, giải quyết nhiệm vụ.
Do đó sáng tạo là một thuộc tính của tư duy, là một phẩm chất của quá trình tư duy. Theo ông, đặc trưng của TDST là tìm kiếm những phương pháp mới, phương pháp lôgíc và những phương pháp khác nhau để giải quyết vấn đề. Ông đã nhấn mạnh ý nghĩa của hoạt động sáng tạo: “thậm chí sáng tạo là chỉ báo quan trọng hơn là trí thông minh về năng khiếu, tiềm năng của một người” và nhận định: “Không có một hiện tượng tâm lý nào bị coi thường trong suốt một thời gian dài và đồng thời lại được quan tâm trở lại một cách bất ngờ như là hiện tượng sáng tạo” [55]. Ở giai đoạn này tiếp tục có những nghiên cứu vấn đề TDST thuộc phạm vi tâm lý học, giáo dục học.
Đã có nhiều nhóm nghiên cứu với các tên tuổi lớn như: Holland (1959), May (1961), Mackinnon D.P Torrance (1965) và một số tác giả người Mỹ như: Barron, Blom, Getzels, Helmholtz,.và một số tác giả của Liên Xô (cũ). Nội dung của các công trình nghiên cứu này chủ yếu đề cập tới một số vấn đề cơ bản của hoạt động sáng tạo như: tiêu chuẩn cơ bản của hoạt động sáng tạo, sự khác biệt giữa sáng tạo và không sáng tạo, bản chất và quy luật của hoạt động sáng tạo, vấn đề phát triển NLST và kích thích hoạt động sáng tạo, những thuộc tính của nhân cách của hoạt động sáng tạo. Thông qua các kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học cho rằng khả năng sáng tạo có ở tất cả mọi người bình thường. Các nhà Tâm lý học còn phát hiện ra phương pháp thử sai và vai trò quan trọng của nhiều yếu tố tâm lí như liên tưởng, linh tính, trí tưởng tượng, tính ì tâm lí,…trong quá trình TDST.
Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về TDST và việc bồi dưỡng, rèn luyện TDST trong dạy học của nhiều tác giả lớn trên thế giới như J.Guilford, Blom, Getzels, L. Trong đó các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) cũng đóng góp được nhiều kết quả trong việc nghiên cứu vấn đề sáng tạo, quá trình sáng tạo, NLST, nhân cách sáng tạo. Một số nhà tâm lý học Tiệp Khắc, Ba lan, Đức, Hunggari,. cũng đã nghiên cứu về vấn đề sáng tạo cả về mặt lý luận và thực nghiệm.
Về chủ đề bồi dưỡng NLST cho HS trong nhà trường có các cuốn sách và bài báo: “Phát triển khả năng sáng tạo trong lớp học” (Penick J.E), “Nghiên cứu về khả năng sáng tạo của HS” (Reid J.), “Những khám phá về TDST ở đầu tuổi học” ( E. Torrance), “ Những sinh viên có tài năng: Xác nhận về sự khác biệt trí thông minh sáng tạo ” (M.Wing), “Vai 9 trò của TDST và trí thông minh trong thành tích học tập” (Yamamoto Kaoru). (theo [28]) Guilford [55] đã đề cập đến đặc điểm nhân cách sáng tạo và biểu diễn nó thành mô hình. Ông cho rằng nhân cách sáng tạo phải có một tổ hợp các đặc điểm và năng lực sau: tính lưu loát, tính mềm dẻo, tính chi tiết, tính độc đoán, tính nhạy cảm vấn đề và sự định nghĩa lại.
Theo Guilford NLST là: “năng khiếu đặc trưng của các cá nhân sáng tạo, ví dụ sự trôi chảy, linh hoạt, độc đáo, tư duy khác biệt”. Torrance [41] lại cho rằng đây là: “một quá trình biến một người nào đó trở nên nhạy cảm với các vấn đề, từ những thiếu sót, rạn nứt trong kiến thức dẫn họ đến kết quả là xác định được vấn đề, tìm ra giải pháp hoặc đưa ra giả định, chấp thuận và kiểm tra các giả thuyết này để sửa đổi chúng nếu cần thiết”. Còn theo William Benn thì những người có NLST có những đặc điểm: “luôn tìm kiếm những cách làm có hiệu quả, họ là những người phá vỡ những giới hạn để tìm ra những giải pháp mới, cách làm mới; họ phát triển trí tò mò và luôn đặt câu hỏi tại sao; họ tạo ra những ý tưởng mới, cách làm mới; họ dám hành động;….” Cuốn Từ điển về SÁNG TẠO của Gorny E (2007) nêu: “sáng tạo được hiểu là khả năng của một con người, của một tổ chức đưa ra những ý tưởng mới, có chất lượng cao và có giá trị cao; là sự tư duy theo cách mới, là sự nhìn thấy vấn đề mới trong các vấn đề cũ. Sáng tạo là sản phẩm của các phẩm chất và năng lực trí tuệ” [56].
Như vậy, khi mà mọi lĩnh vực khoa học khác có những bước phát triển vượt bậc, khi mà sức sáng tạo của con người được thăng hoa thành những thành tựu khoa học vĩ đại, khi mà TDST phát huy được vai trò to lớn của nó đối với sự phát triển thế giới, thì khi đó con người ta mới đặt nhiều câu hỏi về TDST và NLST với mong muốn làm thế nào để phát huy tối đa sức sáng tạo của con người và khoa học sáng tạo mới thực sự được quan tâm nghiên cứu một cách bài bản trên khắp thế giới. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, những hoạt động liên quan đến khoa học về sáng tạo mới thật sự bắt đầu vào thập kỉ 70 của thế kỷ XX, trước đó những hoạt động này còn mang tính tự phát và chưa có tổ chức cao. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về sáng tạo với đội ngũ các nhà nghiên cứu khá hùng hậu. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: “Phương pháp sáng tạo và đổi mới” [9] ; “Rèn luyện kĩ năng công tác độc lập cho HS qua môn toán” [12]; “Rèn luyện khả năng sáng tạo toán học ở nhà trường phổ thông” (Hoàng Chúng); “Khơi dậy tiềm năng sáng tạo” [37]; “Tập cho HS giỏi toán làm quen dần với nghiên cứu toán học” [38]; “Dạy và học cách tư duy” [48]; “Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương” [13]; “Rèn luyện tư duy sáng tạo cho HS qua các giờ làm văn ở nhà trường trung học phổ thông” (Dương 10 Thị Mai Hương); … và một số tác giả khác cũng có công trình nghiên cứu về tư duy sáng tạo như Nguyễn Bá Kim, Vũ Dương Thụy, Nguyễn Kế Hào, Vũ Quốc Chung, Trần Hiệp, Đỗ Long, Tôn Thân, Trần Luận,.