Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Nghiên cứu NL sư phạm nói chung, NLDH nói riêng không còn là vấn đề mới nữa. Tuy nhiên, vấn đề này vẫn tiếp tục thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học, nhà giáo dục. Những nghiên cứu hiện nay cho thấy đã có nhiều cách tiếp cận mới về NLDH, đặc biệt là vấn đề đánh giá NLDH, bởi lẽ dưới sự tác động của những yếu tố mới trong thời đại ngày nay như công nghệ thông tin, vv… đã làm thay đổi nhiều quan điểm về giáo dục và dạy học.
Hiện nay, nhiều nhà khoa học giáo dục quan tâm là NL của người GV đáp ứng chuẩn hay đáp ứng yêu cầu của xã hội như thế nào? 1. Nghiên cứu trên thế giới 1. Một số hướng tiếp cận năng lực, năng lực nghề nghiệp Trong Tâm lý học, NL là một trong những vấn đề được quan tâm nghiên cứu bởi nó có ý nghĩa thực tiễn và lý luận to lớn bởi “Sự phát triển năng lực của mọi thành viên trong xã hội sẽ đảm bảo cho mọi người tự do lựa chọn một nghề nghiệp phù hợp với khả năng của cá nhân, làm cho hoạt động của cá nhân có kết quả hơn,…và cảm thấy hạnh phúc khi lao động” [15]. Trong nền Tâm lý học Liên xô từ năm 1936 đến 1941 có rất nhiều các công trình nghiên cứu về những vấn đề NL, nổi bật như: NL toán học của V.
Miaxisốp; NL văn học của Côvaliốp, V.Iaguncôv những công trình nghiên cứu này đưa ra được các định hướng cơ bản cả về mặt và thực tiễn cho các nghiên cứu sau này của dòng Tâm lý học Liên xô trong những nghiên cứu về NL. Đề cập đến NL nghề nghiệp, trong đó có NLDH nhà nghiên cứu Michel Develay, trong công trình nghiên cứu “Một số vấn đề đào tạo GV” cho rằng: “Những năng lực nghề nghiệp không phải là cái có sẵn mà đang được hình thành thông qua hoạt động thực hành, rèn luyện nghiệp vụ trong suốt quá trình đào tạo cũng như hoạt động nghề nghiệp” [15]. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NL nghề nghiệp trong giáo dục được thực hiện thông qua nhiều hoạt động, trong đó tổ chức kiểm tra, đánh giá lớp học là một hoạt động quan trọng để đánh giá NLDH. Trong công trình nghiên cứu “Kiểm tra và đánh giá lớp học - Nguyên tắc và thực hành để giảng dạy hiệu quả”, nhà nghiên cứu McMillan đã đưa ra một số biện pháp, cách thức và mức độ đánh giá trong giáo dục.
Đây là một căn cứ để xây dựng các tiêu chí đánh giá NLDH của GV. Hướng tiếp cận đánh giá năng lực và năng lực dạy học Đánh giá NL của Khối cộng đồng chung Anh (2003), là “Đo lường năng lực không chỉ là việc đo lường khả năng thực hiện nhiệm vụ hoặc hành động học tập. Nó bao hàm việc đo lường khả năng tiềm ẩn của học sinh và đo lường việc sử dụng những kiến thức, kỹ năng, và thái độ cần có để thực hiện nhiệm vụ học tập đó tới một chuẩn nào đó” [19]. Wolf (2001) khi định nghĩa đánh giá NL trong một xã hội học tập cho rằng đó là việc đánh giá khả năng tiềm ẩn nào đó dựa trên việc các sản phẩm đầu ra vừa khái quát vừa cụ thể của quá trình học tập được miêu tả rõ ràng tới mức có thể làm cho GV, HS và các bên liên quan đều có thể hình dung tương đối khách quan và chính xác về thành quả của HS sau quá trình học tập.
Vì, theo Wolf “Đánh giá năng lực là đánh giá dựa trên việc miêu tả các sản phẩm đầu ra cụ thể, rõ ràng tới mức giáo viên, học sinh và các bên liên quan đều có thể hình dung tương đối khách quan và chính xác về thành quả của học sinh sau quá trình học tập. đánh giá năng lực cũng cho phép nhìn ra tiến bộ của học sinh dựa trên mức độ thực hiện đạt/không đạt các sản phẩm” (Wolf, 2001) Năm 2008, nhóm nghiên cứu gồm Laura Goe, Courtney Bell, Olivia Little đã hoàn thành công trình nghiên cứu có tên “Approaches to Evaluating Teacher Effectiveness: A Research Synthesis” (Tiếp cận phương pháp đánh giá giáo viên hiệu quả: Một nghiên cứu tổng hợp) đã trình bày những luận điểm khoa học quan trọng trong việc đánh giá GV, trong đó có đánh giá hoạt động giảng dạy. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.C, trong tác phẩm “Measuring teacher quality in practice” đã đề cập đến vấn đề đo lường và đánh giá các nội dung liên quan đến chất lượng dạy học Năm 2012, Natasa Pantic và T.Wubbels đã trình bày mối quan hệ giữa NLDH với những thay đổi chương trình giảng dạy trong bài nghiên cứu “Competence-based teacher education: A change from Didaktik to Curriculum culture”. Theo đó, NL của người GV có thể làm thay đổi chương trình đào tạo GV cho phù hợp với thực tế và sự phát triển của xã hội.
Ngoài ra, Natasa Pantic và T.Wubbels còn nghiên cứu những quan điểm của các nhà giáo dục học về NL sư phạm – cơ sở cho sự đào tạo GV. Trong công trình nghiên cứu “Mapping the teacher’s role: The value of defining core competencies for teaching”, Khoa Phát triển văn phòng và Trung tâm Giáo dục Y tế, Đại học McGill, Canada đã lập Bản đồ vai trò của GV - Giá trị của xác định NL cơ bản cho việc giảng dạy. Theo đó, những nội dung cơ bản để xác định NLDH của giảng viên bao gồm: đảm bảo chất lượng của chương trình giáo dục; đánh giá giảng viên; đánh giá hiệu suất và hoạt động phát triển nghề nghiệp của giảng viên, vv… Hiện nay, một số nước trên thế giới như Mỹ, Anh, Phần Lan, New Zealand, Úc, Hàn Quốc, vv, … tiến hành đổi mới đánh giá trong giáo dục một cách khá toàn diện. Những quốc gia này đang áp dụng nhiều mô hình đánh giá tiến tiến và có hiệu quả.
Đây là những thông tin và bài học có giá trị cho việc tổ chức các hoạt động đánh giá NL của người học ở nước ta nói chung, đánh giá NLDH của SV sư phạm nói riêng. * Ở Mỹ: Giáo dục từ phổ thông đến đại học của Mỹ đều chú trọng đánh giá NL. Khi đánh giá NL, những yêu cầu cho GV cũng cao hơn. GV cần phải có các thành phần NLđánh giá sau: + NL miêu tả những kỳ vọng của họ về thành quả học tập và NL học tập của HS 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Hiểu biết về các mục đích đánh giá khác nhau + Xác định hoặc thiết kế phương pháp đánh giá phù hợp + Hiểu về các đặc điểm thống kê của kết quả đánh giá, và giải thích kết quả đó + Lưu và phản hồi thông tin về đánh giá cho các đối tượng có liên quan + Biết và ứng dụng các chuẩn về đánh giá trên lớp + Hiểu và luôn sẵn sàng chịu trách nhiệm về những hậu quả của đánh giá của họ cho HS và gia đình HS * Ở Anh: Đánh giá NL đã bắt đầu được tiến hành ở châu Âu từ những năm cuối thập kỷ 1970.
Theo Davies và Harden (2003), những cản trở chính cho quá trình thực hiện đánh giá NL là: + Việc thiết kế NL bị chia nhỏ thành những NL cụ thể không liên quan với nhau về hệ thống + Việc thiếu một ngôn ngữ chung giữa GV, HS và các đối tượng liên quan về NL. Các từ ngữ trong đường hướng đánh giá mới không được dùng giống nhau bởi các đối tượng khác nhau + Việc đưa ra chuẩn đầu ra là NL không chỉ dừng lại ở việc đưa ra chuẩn đầu ra, mà phải có kèm cả hướng dẫn để làm thế nào có được chuẩn đầu ra đó nữa cho cả GV và HS. Từ những trở ngại đó, một số giải pháp được nêu ra cho đánh giá NL như: + Thiết kế hệ thống các NL cụ thể, các phương pháp đánh giá – không tách rời từng thành phần + Tập trung chú ý vào cả hệ thống đánh giá, từ việc xác định mục đích, xây dựng NL, đầu ra, phương pháp, phản hồi,. + Phân biệt các khái niệm, ví dụ như thực hành và NL + Xác định biện pháp đảm bảo các nguyên tắc chính của đánh giá: độ khả thi, độ hữu dụng, tính giá trị, tính tin cậy, độ thực tế, ảnh hưởng tới giáo dục.
20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Xây dựng công cụ đánh giá mới + Đào tạo GV và người tham gia đánh giá + Xây dưng thang đo, chuẩn NL, tiêu chí đánh giá * Ở New Zealand và Úc: Tại New Zealand, đánh giá theo chuẩn đầu ra đã bắt đầu được tiến hành từ những năm 1970. Ngân hàng câu hỏi và các hệ thống thi cử trên diện rộng được xây dựng, các biện pháp đảm bảo chất lượng khác cũng được áp dụng. GV được quyền tự quyết các phương pháp đánh giá nhưng nhà nước có hỗ trợ thông qua các hướng dẫn bằng văn bản về cách thực hiện đánh giá. Rất nhiều hoạt động hỗ trợ đã được cung cấp cho GV và những người thực hiện đánh giá.
Vấn đề quan trọng là việc thu thập thông tin dữ liệu về HS, và dạy cho GV cách xử lý lượng thông tin lớn đó để phục vụ giảng dạy. Tuy vậy, dù thay đổi chương trình và đánh giá vẫn phải thay đổi cùng với các chính sách phân vùng giáo dục và ngân sách giáo dục (Philips, 2002). Tại Australia, đánh giá dựa trên chuẩn đã được áp dụng phổ biến và nền giáo dục nhiều bang đang chuyển dần sang theo hướng đánh giá theo chuẩn đầu ra. Trong hệ thống đánh giá như vậy, GV trở thành người đánh giá chính và NL đánh giá trở thành một NL được yêu cầu ở GV.
Nghiên cứu trong nước 1. Hướng tiếp cận khái niệm năng lực và năng lực nghề nghiệp Có nhiều tranh luận trong vấn đề định nghĩa khái niệm NL. Hiện nay, tồn tại hai khuynh hướng khác nhau khi bàn về NL. - Khuynh hướng thứ nhất, xem NL như là một điều kiện tâm lý của cá nhân để hoàn thành có kết quả một hoạt động.
Theo khuynh hướng này, GS. Phạm Minh Hạc cho rằng: Năng lực là những đặc điểm tâm lý cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của hoạt động nhất định nào đó và là điều kiện để thực hiện có hiệu quả hoạt động đó [6]. 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Khuynh hướng thứ hai, xem NL là những thuộc tính tâm lý của cá nhân.TS Nguyễn Quang Uẩn định nghĩa: Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt [6].