Chương 1: Giới thiệu dé tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Trường hợp nghiên cứu cụ thể tại doanh nghiệp Chương 6: Kết luận và kiến nghị Trang 6 Chương 2: Cơ sở lý thuyết CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LY THUYET 2. Quản lý chuỗi cung ứng 2. Khát niệm Theo Beamon (1999) “Chuỗi cung ứng là quá trình tích hợp trong đó nguyên vật liệu được sản xuất thành sản phẩm cuối cùng, và giao cho khách hàng thông qua hệ thống Nhà Nhà cung cấp sản xuât Vv A Dòng nhu câu, thông tin & tài chính Hình 2.1 Mô hình chuỗi cung ứng cơ bản Nguồn Midha, V. Handfiel & Nichols (1999) phát biểu: “Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả những hoạt động liên quan tới dòng chảy và chuyển đổi của sản phẩm từ trạng thái nguyên vật liệu tới người sử dụng cuối cùng, cũng như dòng chảy thông tin.
Cả dòng chảy nguyên vật liệu lẫn thông tin phải lưu thông phía trên và phía dưới của chuỗi cung ứng”. Dựa trên những khái niệm về chuỗi cung ứng, Handfield và Nichols (1999) đã phat biểu: “Quản lý chuỗi cung ứng là sự tích hợp của tat cả các hoạt động sản xuất một san phẩm, được sử dụng dé tạo ra một lợi thế cạnh tranh băng cách tăng cường mối quan hệ giữa các thành viên trong chuỗi.” Bên cạnh đó, quản lý chuỗi cung ứng là một hệ thống chiến lược kết nối các chức năng kinh doanh của doanh nghiệp và các chiến thuật quản lý dọc các doanh nghiệp nhằm mục đích cải tiến năng lực lâu dài của doanh nghiệp và toàn chuỗi, (Mentzer, 2001). Trang 7 Chương 2: Cơ sở lý thuyết Dưới quan điểm tác giả thì quản trị chuỗi cung ứng là một tập hợp giải pháp nhằm tác động đến hoạt động của tất cả các thành viên tham gia chuỗi như nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà kho, các công ty cung cấp dịch vụ, và các cửa hàng bán lẻ. dé sản phẩm được sản xuất và phân phối đúng với mong muốn của khách hàng và tổ chức.
Các thành phan của chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng đơn giản bao gồm một công ty, nhà cung cấp và các khách hàng của công ty đó. Những chuỗi cung ứng mở rộng chứa ba nhóm thành viên. Dau tiên là nhà cung cấp của nhà cung cấp cuỗi cùng trong giai đoạn đầu của chuỗi. Sau đó là khách hàng của khách hàng cuối cùng trong giai đoạn cuối của chuỗi.
Cuối cùng là toàn bộ những công ty cung cấp dịch vụ giao nhận, tài chính, marketing và công nghệ thông Nhà Nhà cung cấp cung cấp 77 ỔÏ O Ồ ộộộộộộ ÖẶ7ƑÐUẾÐU Ốc TS Ll wg «, | tee, *, tay rT CS hh oS gg HH II AITATO TT THTH .ằ NnnNHHqqAa | te, + HH HD. TQ II II NNnNHAaAAAỄN. LTLO TTNNNNặạiHaaiii fey ei LH egg HH. THTH nnnnaIaL nai oe, ony a eS eee yg gg Tay ee, See TH een, Ww eg gege any en, wae, mW tt ., TT ` 7 Sie nnnnnnnHHHAL gs k,.
Nhà cung os. cập dịch vụ Hình 2.2 Các thành phan chuỗi cung ứng mở rộng Nguồn: Michael Hugos, Essentials of Supply chain management (2010). Tổng quan về chuỗi cung ứng ngành dệt may 2. Chuỗi cung ứng ngành dệt may Chuỗi cung ứng ngành dệt may rất phức tạp với nhiều doanh nghiệp tham gia từ khắp mọi miền đất nước.
Forza & Vinelli, (1997) đã mô tả những thành phân chính trong chuỗi cung ứng ngành dệt may như hình 2. Trong đó, mục tiêu quản lý chuỗi cung ứng là giảm thời gian chờ và phản hồi nhanh với thay đối của môi trường. San xuat sợi Sản xuât vải ay Phan phôi ¬~ mặc tiêu dùng Hình 2.3 Các thành phần chuỗi cung ứng dệt may theo Forza & Vinelli (1997) Trang 8 Chương 2: Cơ sở lý thuyết Một kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng thời gian đáp ứng đơn hàng trong chuỗi cung ứng dệt may từ nguyên vật liệu tới khách hàng cuỗi cùng là 66 tuân, trong đó 40 tuân dành cho lưu trữ và vận chuyền, (Kurt Salmon Associates, 1985). Thời gian chờ quá dài trong chuỗi cung ứng dệt may sẽ dẫn đến việc cung cấp sản phẩm lạc hậu, không đúng thời điểm và nhu cau của người tiêu dùng.
Do đó, phản hồi nhanh trong chuỗi cung ứng dệt may được biết đến như là một quá trình chia sẻ thông tin giữa cửa hang bán lẻ và những đơn vị cung cấp dé đáp ứng nhu cau khách hàng đúng lúc. Những thuộc tính quan trọng chuỗi cung ứng ngành dệt may Theo quan sát thực tế, chuỗi cung ứng ngành dệt may bao gồm nhiều chức năng của những thành viên tham gia vào chuỗi. Trong đó, một doanh nghiệp có thể đảm nhận nhiều vai trò trong chuỗi cung ứng: như Nike vừa là một nhà quản lý thương hiệu, cũng có thé được xem như một nhà phân phối va bán lẻ. Điều này ngụ ý rang chuỗi cung ứng có thé hình thành trong nội bộ một doanh nghiệp như Vinatex Việt Nam vừa là nhà sản xuất sợi cung cấp cho thị trường, đồng thời cũng sản xuất vải và may mặc để đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Quân áo nói chung là sản phẩm cuối cùng của chuỗi cung ứng ngành dệt may. Dé tao ra sản pham may mặc thường di qua quy trình 8 bước như sau (Burn & Bryant, 2002) Nghiên cứu + Thiết kế + Phát triển thiết kế & lựa chọn phong cách x Đánh giá thử mẫu thiết kế x San xuất thử zt Tim nguôn cung ứng x Sản xuất và đảm bảo chat lượng x Phân phối và bán lẻ Hình 2.4 Quá trình tạo sản phẩm may mặc theo Burn & Bryant (2002) Trang 9 Chương 2: Cơ sở lý thuyết Tuy nhiên, một số quy trình sản xuất trong ngành được tổng hợp thành bốn giai đoạn: (1) phát triển sản phẩm, (2) thu mua, (3) sản xuất và (4) phân phối và bán lẻ, với sự tham gia ít nhất của bốn thành phan đó là: những nha bán lẻ, đơn vi quản lý thương hiệu, doanh nghiệp may mặc và đơn vị phụ trợ nguyên vật liệu. Trách nhiệm của các mắc xích trong chuỗi với bốn quá trình trên được minh họa trong bảng 2.1 Vai trò các thành viên trong chuỗi cung ứng theo Burn & Bryant (2002) Đơn vị | Đơn vị quan lý Don vị Don vi cung ứng bán lẻ thương hiệu may mặc | nguyên vật liệu Phát triển sản phẩm X * X Thu mua X * X X Sản xuất X * Phân phối & bán lẻ * X Ghi chú: x: vai trò hỗ trợ, *: vai trò chính Từ bảng 2.1, ta thay được sự khó khăn trong môi trường kinh doanh ngành dệt may hiện nay. Các doanh nghiệp trong ngành can có sự liên kết và chia sẻ thông tin trong toàn chuỗi cung ứng.
Có nhiều nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh vai trò của việc chia sẻ thông tin trong chuỗi cung ứng để đạt được lợi thế cạnh tranh và hoạt động hiệu quả như một đơn vi độc lập (Stein & Sweat, 1998). Hơn nữa, Yu et al, (2001) đã chỉ ra rằng có thể giảm ảnh hưởng của hiệu ứng Bullwhip thông qua việc chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng. Những lợi ích của việc chia sẻ thông tin trong chuỗi cung ứng có thé nhắc đến đó là giảm ton kho, tăng thời gian chu kỳ, cải thiện dự báo, và nâng cao chất lượng sản phẩm với chi phí phù hợp. Vì vậy, chia sẻ thông tin nên được xem là một thuộc tinh quan trong trong chuỗi cung ứng ngành dệt may hiện nay.
Phát triển sản phẩm dệt may yêu cầu mẫu thiết kế và kỹ thuật may phải có khả năng sản xuất và thị trường cung cấp cũng như tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Theo Wickett et al, (1999) thì quá trình phát triển sản phẩm trong dệt may cần chú ý các vẫn đề về sự phù hợp của mẫu mã, mô hình sản xuất, nguôn nguyên liệu, dây chuyên lắp ráp va các chi phí liên quan. Bên cạnh đó các yêu cầu của khách hàng về phong cách, mầu sắc, nguyên liệu, hàm lượng xơ trong vải., cũng cần phải được cân nhắc trong quá trình thiết kế và phát triển sản phẩm. Do do, phát triển sản phẩm là một thuộc tính quan trọng của chuỗi cung ứng dệt may.
Trang 10 Chương 2: Cơ sở lý thuyết Trong mô hình thẻ điểm cân băng (Balanced Score Card) của Kaplan & Norton (1992) thì thẻ điểm học tập và cải tiễn, thừa nhận rang các công ty can phải không ngừng hoc tập và liên tục cải tiễn để đảm bảo lợi nhuận tương lai. Trong ngành dệt may cải tiến là một điều quan trọng dé thu hút khách hang và duy trì lợi nhuận. Các công nghệ mới, nguyên liệu mới là những nhân tố quan trọng để tạo lợi thế cạnh tranh trong ngành. Vì vậy, cải tiến là một thuộc tính quan trọng trong chuỗi cung ứng ngành dệt may.
Mục tiêu của chuỗi cung ứng ngành dệt may là cung cấp sản phẩm đúng phong cách, thời gian tới thi trường với chi phí thấp và tốc độ nhanh để tối đa hóa lợi nhuận. Do đó, những thuộc tính về chỉ phi, thời gian, chất lượng, tính linh hoạt, và lợi nhuận trong chuỗi cung ứng đều rất quan trọng khi đánh giá chuỗi. Tóm lại, chuỗi cung ứng ngành dệt may có những đặc tính riêng biệt vốn có, như thiết kế và phát triển sản phẩm đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng. Thông qua tìm hiểu các lý thuyết, tác giả cho rang có tám thuộc tính quan trọng cần phải xem xét khi xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chuỗi cung ứng ngành dệt may đó là: (1) thiết kế và phát triển sản phẩm trong chuỗi cung ứng, (2) chia sẻ thông tin trong chuỗi cung ứng, (3) cải tiến trong chuỗi cung ứng, (4) chi phí chuỗi cung ứng, (5) thời gian chuỗi cung ứng, (6) chất lượng chuỗi cung ứng, (7) tính linh hoạt chuỗi cung ứng và (8) lợi nhuận chuỗi cung ứng.
Và tám thuộc tính này sẽ là nền tảng cho mô hình nghiên cứu tác giả sẽ thực hiện trong luận văn này. Hệ thống đo lường năng lực chuỗi cung ứng 2. Tại sao cần do lường năng lực chuỗi cung ứng Một vài nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những cải tiến trong chuỗi cung ứng sẽ đem lại một lợi nhuận đáng kề cho tổ chức trong việc tiết kiệm chi phí, cải thiện sản phẩm và gia tăng dịch vụ khách hàng. Một hệ thong đánh giá năng lực vận hành chuỗi cung ứng sẽ cung cấp cho tổ chức một khung hình chuẩn dé đánh giá năng lực các mối quan hệ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.