Chương 1 đem lại cái nhìn tổng quan về đề tài nghiên cứu, bao gồm tính cấp thiết của đề tài, mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Trong Chương này, tác giả cũng đề cập các câu hỏi nghiên cứu cần phải được giải đáp khi thực hiện luận văn này, cùng với các phương pháp nghiên cứu. Các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước cũng được đề cập, tạo tiền đề cho việc kết hợp cơ sở lý thuyết để xây dựng mô hình nghiên cứu và các thang đo phù hợp. Nghiên cứu đem lại những ý nghĩa nhất định, với bố cục trải đều qua năm chương.
Luan van 10 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA NHÂN VIÊN VÀ SỰ CẤP THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA NHÂN VIÊN LÀM VIỆC TẠI TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG SỐ 1 - CTCP 2. Giới thiệu tổng quan về Tổng công ty 2. Quá trình hình thành và phát triển của Tổng công ty Tổng công ty Xây dựng Số 1 - CTCP (CC1) ban đầu là một doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Bộ Xây dựng, được thành lập vào ngày 01/10/1979 dưới tên gọi Tổng công ty Xây dựng Số 1. Gần 40 năm trôi qua, CC1 đã và đang là một trong những đơn vị cung cấp dịch vụ xây dựng uy tín hàng đầu của khu vực phía Nam nói riêng và cả nước nói chung, nổi bật với phương châm UY TÍN – CHẤT LƯỢNG – HIỆU QUẢ.
Trong giai đoạn 1985-1989, ngoài việc hoạt động chủ yếu trên các lĩnh vực xây lắp các công trình dân dụng, công nghiệp thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước, Tổng Công ty Xây dựng Số 1 mở rộng thêm mảng kinh doanh, sản xuất và xuất nhập khẩu vật liệu xây dựng (VLXD). Năm 1992, lĩnh vực tư vấn đầu tư và thiết kế xây dựng tiếp tục được phát triển để kịp thời đáp ứng nhu cầu của thị trường xây dựng thời điểm bấy giờ. Với tư duy quản lý đổi mới, Tổng Công ty Xây dựng Số 1 đã tạo được những dấu ấn trên lĩnh vực xây dựng, được các chủ đầu tư đánh giá cao, tin tưởng giao trọng trách xây dựng các công trình tiêu biểu và tầm cỡ trên phạm vi cả nước. Trên đà phát triển mạnh mẽ, Tổng Công ty Xây dựng Số 1 bắt đầu tấn công sang lĩnh vực đầu tư, tập trung vào đầu tư xây dựng kinh doanh văn phòng, căn hộ, nhà máy thủy điện, nhiệt điện và khai thác cảng biển, đem lại những thành tựu đáng kể trong giai đoạn 2001-2006.
Điển hình phải kể đến dự án đầu tư Nhà máy xi măng Phương Nam được thực hiện trong năm 2004 tại Khu công nghiệp Hiệp Phước – Nhà Bè, với sản lượng 500 ngàn tấn/năm, công suất tối đa lên tới 750 ngàn tấn/năm. Trong giai đoạn này, Tổng công ty cũng trúng thầu hàng loạt các dự án xây dựng trọng điểm, bao gồm dự án Nhà máy Nhiệt điện Phú Mỹ 1 & 2-2, dự án Thoát nước vệ sinh môi trường Đà Nẵng, Nâng cấp, mở rộng đường Bạch Đằng – Thành phố Đà Nẵng,…v. Luan van 11 Từ năm 2007 đến nay, Tổng Công ty Xây dựng Số 1 vươn lên dẫn đầu trong ngành xây dựng, vinh dự nhận giải “Cúp vàng công trình chất lượng cao” do Bộ Xây Dựng trao tặng. Bên cạnh thế mạnh ngành nghề truyền thống, Tổng công ty đã và đang làm chủ đầu tư nhiều dự án lớn, tiêu biểu như: Nhà máy thủy điện Đăk R’tih, công suất 144MW tại tỉnh Đăk Nông có tổng mức đầu tư trên 4.000 tỷ đồng; Dự án BOT cầu Đồng Nai mới có tổng mức đầu tư 2.150 tỷ đồng; Dự án khu dân cư Hạnh Phúc (43ha) tại khu Nam TP.
Hồ Chí Minh có tổng mức đầu tư trên 9.000 tỷ đồng; Dự án Cao ốc phức hợp Sailing Tower, tổng mức đầu tư trên 700 tỷ đồng. Bên cạnh đó, Tổng công ty còn được lãnh đạo Bộ Xây dựng chọn làm đơn vị nòng cốt trong việc thực hiện các chương trình xây dựng nhà ở cho sinh viên, nhà ở cho người thu nhập thấp tại các tỉnh thành khu vực phía Nam. Các dự án này được quy hoạch bài bản, đồng bộ, hiện đã phát huy tốt giá trị kinh tế, chính trị góp phần xây dựng thương hiệu Tổng công ty ngày một phát triển bền vững. Năm 2016, Tổng công ty Xây dựng Số 1 thực hiện tái cấu trúc và cổ phần hóa, đổi tên thành Tổng công ty Xây dựng Số 1 – CTCP.
Tới năm 2017, CC1 đã niêm yết 110 triệu cổ phiếu trên sàn UPCoM, vốn hóa thị trường của cổ phiếu CC1 là 1.562 tỷ đồng, đưa CC1 trở thành một trong những công ty niêm yết lớn nhất trong ngành xây dựng. Kết quả hoạt động kinh doanh của Tổng công ty giai đoạn 2014-2018 Giai đoạn 2014-2018 được xem là giai đoạn tăng trưởng tương đối ổn định của CC1 về mặt doanh thu và lợi nhuận ở những năm đầu, và biến động nhẹ ở những năm cuối; chi phí cũng tăng theo doanh thu và lợi nhuận, biến động khi công ty chuyển sang giai đoạn cổ phần hóa. Cụ thể, trong giai đoạn 2014-2016, được ghi nhận gộp ở cả công ty mẹ, các công ty con và công ty liên kết, doanh thu và lợi nhuận của CC1 tăng đều, doanh thu năm 2015 tăng 9,91% và lợi nhuận tăng 24,06% so với năm 2014. Lợi nhuận thời gian này tăng mạnh, chủ yếu là lợi nhuận thu được từ hiệu quả của các dự án đầu tư đã đưa vào khai thác như Nhà máy Thủy điện Đakr’tih, Dự án BOT cầu Đồng Nai, Tòa nhà Sailing Tower.
Chi phí giai đoạn này tăng 9,33% tập trung vào hoàn thiện các dự án cũ và chi phí ban đầu cho các dự án mới. Năm 2016 tiếp tục là một năm chứng kiến sự tăng trưởng doanh thu, song mức độ tăng trưởng không Luan van 12 mạnh bằng năm tài chính trước đó. Cụ thể, doanh thu năm 2016 tăng 4,74% và lợi nhuận tăng 7,8% so với năm 2015. Trong năm 2016, Tổng công ty không đạt được sự tăng trưởng mạnh mẽ vì đây là thời điểm Tổng công ty tập trung mọi nguồn lực thực hiện cổ phần hóa.
Tình hình tài chính Tổng công ty đã được cải thiện đáng kể nhờ dòng tiền từ IPO và giải ngân từ nguồn vốn vay ADB song tăng trưởng từ các hoạt động cốt lõi vẫn không có sự đột biến đáng kể. Chi phí giai đoạn này tăng nhẹ, tăng 4,6% so với năm trước, phân bổ chính vào việc thực hiện cổ phần hóa. Một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu của CC1 giai đoạn 2014-2018 Đơn vị tính: Tỷ đồng Năm 2017 2018 Tỷ lệ tăng trưởng (%) (Cty mẹ (Cty mẹ 2014 2015 2016 & Cty & Cty 2015 - 2016 - 2018 - Chỉ tiêu con) con) 2014 2015 2017 Doanh 8.003 9,91 4,74 19,38 thu Lợi nhuận 320 397 428 58,64 277,25 24,06 7,8 372,8 trước thuế Chi phí 7.725,75 9,33 4,60 15,81 Nguồn: Phòng Nghiên cứu, Phát triển và Đầu tư CC1 Bước sang giai đoạn 2017-2018, các chỉ tiêu tài chính bắt đầu được ghi nhận riêng ở công ty mẹ và các công ty con, không bao gồm công ty liên kết. Năm 2017, CC1 chứng kiến một sự sụt giảm đáng kể về doanh thu và lợi nhuận.
Đây là mốc thời gian Tổng công ty bắt đầu bước vào thời kỳ tái cấu trúc doanh nghiệp, tập trung chủ yếu vào việc rà soát và định hướng doanh nghiệp. Công ty mẹ, công ty con và công ty liên kết đều có sự sắp xếp lại, điều chỉnh về nhiều mặt, dẫn đến hoạt động kinh doanh của Tổng công ty không đạt được như kế hoạch mong muốn trong năm 2017. Lợi nhuận trước thuế chỉ vỏn vẹn 58,64 tỷ đồng là một minh chứng rõ ràng cho lập luận nêu trên. Đến năm 2018, khi quá trình tái cấu trúc đã đi được 1/3 chặng đường, hoạt động của Tổng công ty đã đi vào ổn định hơn.
Doanh thu ở giai đoạn này tăng Luan van 13 19,38%, đặc biệt lợi nhuận tăng 372,8% so với năm 2017. Lợi nhuận tăng đột biến đến từ nguồn thu các dự án chuyển tiếp năm 2017, đa phần là các dự án nhà máy nhiệt điện, khu đô thị sinh thái. Bên cạnh đó, năm 2018 cũng là năm mà CC1 trúng thầu nhiều gói thầu trọng điểm trong lĩnh vực xây lắp và các dự án đầu tư đem lại lợi nhuận cao cũng góp phần giúp lợi nhuận tăng cao vào thời điểm này. Điển hình phải kể đến các dự án trọng điểm như Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương, Bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh, Bệnh viện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai, Trường Đại học Việt Đức,…v.
Chi phí năm 2018 so với 2017 cũng tăng mạnh 15,81%, tập trung vào chi phí xây dựng các dự án mới trúng thầu và chi phí tái cấu trúc doanh nghiệp. Các chế độ phúc lợi, thu nhập cho nhân viên Được quy định tại Quyết định phê duyệt quy chế Tiền lương – Thu nhập của Tổng công ty Xây dựng Số 1 – CTCP, tiền lương thực nhận của cán bộ công nhân viên CC1 bao gồm Tiền lương chức danh, Tiền lương làm thêm giờ, Tiền lương theo hệ số hiệu quả và Tiền lương theo hệ số trách nhiệm công việc. Trong đó, Tiền lương chức danh là tiền lương tối thiểu mà Tổng công ty trả cho nhân viên theo hợp đồng lao động. Tiền lương làm thêm giờ là phần tiền lương nhân viên được thanh toán do yêu cầu công việc đòi hỏi phải làm thêm ngoài giờ làm việc chính thức, hoặc vào các dịp lễ, Tết.
Tiền lương theo hệ số hiệu quả được tính dựa trên thang đo Tổng công ty lập ra. Tiền lương theo hệ số trách nhiệm công việc được tính cho các thành viên trong Ban giám đốc, Hội đồng quản trị, Trưởng/phó phòng và Nhóm trưởng. Ngoài ra, Tổng công ty còn áp dụng tăng lương bù trượt giá dựa trên chỉ số giá tiêu dùng thị trường cho nhân viên hàng quý. Ngoài tiền lương, nhân viên còn nhận được tiền phụ cấp, biến động theo thời gian làm việc, công tác phí và các khoản phụ cấp khác (tiền ăn trưa, xăng xe, đồng phục, phụ cấp độc hại,…v.
CC1 còn trích từ quỹ khen thưởng để thưởng thêm cho nhân viên vào các dịp Tết dương lịch, Tết âm lịch, Lễ 30/4, 1/5 và Lễ Quốc khánh. Điểm khác biệt trong cơ chế hình thức khen thưởng của CC1 so với công ty khác là CC1 có phần quà vào dịp sinh nhật của mỗi nhân viên với trị giá 1. Đối với các trường hợp cá nhân xuất sắc, đem lại hợp đồng giá trị cao, làm tăng đột biến doanh thu, lợi nhuận và tạo tiếng vang cho doanh nghiệp, Tổng giám đốc sẽ áp dụng Luan van 14 thưởng đột xuất. Các khoản tiền thưởng còn lại phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của Tổng công ty.