Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu làng nghề - Chương 2: Điều kiện địa lý và hoạt động nấu rượu ở làng nghề Vân Hà - Chương 3: Các nguồn thải và hiện trạng môi trường làng nghề - Chương 4: Các giải pháp giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực từ hoạt động sản xuất rượu và cải thiện chất lượng môi trường làng nghề Vân Hà. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LÀNG NGHỀ 1. Cơ sở lý luận về làng nghề 1. Làng nghề và một số tiêu chí công nhận làng nghề a) Khái niệm làng nghề Làng nghề là một bộ phận của kinh tế nông thôn.
Sự phát triển của làng nghề trong những năm gần đây đã và đang góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương, cải thiện và nâng cao đời sống của người dân làng nghề. Hiện nay đã có những công trình nghiên cứu về nghề và làng nghề của các nhà sử học, kinh tế, văn hóa với những cách tiếp cận khác nhau. Nhìn chung, khái niệm làng nghề được tạo bởi hai chủ thể là làng và nghề. Tuy nhiên, không phải bất cứ quy mô nào của nghề cũng được gọi là làng nghề.
Làng được gọi là làng nghề khi các hoạt động của ngành nghề phi nông nghiệp đạt đến một quy mô nào đó và mang tính ổn định. Theo quy định của Bộ NN&PTNT: - Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn.hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, có các hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp, kinh doanh độc lập và đạt tới một tỷ lệ nhất định về lao động làm nghề cũng như mức thu nhập từ nghề so với tổng số lao động và thu nhập của làng [3]. - Làng nghề truyền thống là làng nghề có các hoạt động ngành nghề được hình thành từ lâu đời, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay. Tuy nhiên, không phải làng nào có ngành nghề phi nông nghiệp đều được gọi là làng nghề.
Làng được gọi là làng nghề khi đã đạt được những tiêu chí nhất định. b) Tiêu chí công nhận làng nghề Theo thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ NN&PTNT hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn đã đưa ra những tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống như sau: 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Nghề truyền thống + Là nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. + Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc. + Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.
- Làng nghề: Làng nghề được công nhận phải đạt 3 tiêu chí sau: + Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn. + Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. + Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước. - Làng nghề truyền thống: là làng đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận.
c) Phân loại làng nghề Theo số liệu của Bộ NN&PTNT, hiện nay cả nước có tới 2017 làng nghề, riêng đồng bằng sông Hồng có khoảng 800 làng nghề [3]. Sản phẩm và phương thức sản xuất của các làng nghề khá phong phú với hàng trăm loại ngành nghề khác nhau. Dựa trên các tiêu chí khác nhau, có thể phân loại làng nghề theo một số dạng [3] như sau: - Phân loại theo phương thức sản xuất và loại hình sản phẩm: + Làng nghề thủ công: Làm ra các mặt hàng sử dụng thường nhật như dao, kéo, mây tre đan gia dụng, chiếu. Đặc điểm của các làng nghề này là sản xuất thủ công bằng tay và các công cụ đơn giản.
Do chi phí thấp nên loại hình này khá phổ biến. + Làng nghề thủ công mỹ nghệ: Làm ra các mặt hàng có giá trị văn hóa và trang trí như đồ mỹ nghệ chạm khảm, chạm khắc tượng gỗ, đá, các đồ mỹ nghệ bằng bạc, dệt thảm. + Làng nghề công nghiệp: Sản xuất các hàng hóa thành phẩm và bán thành 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phẩm như sản xuất giấy, dệt, may mặc, gốm sứ, tái chế nhựa, kim loại, thuộc da. + Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm: Chế biến các loại nông sản như xay xát, sản xuất miến dong, bún, bánh, sản xuất bia, nấu rượu, giết mổ vật nuôi, chế biến hoa quả.
+ Làng nghề sản xuất và cung ứng nguyên liệu: Sản xuất vật liệu xây dựng như gạch, ngói, vôi, cát. + Làng nghề buôn bán và dịch vụ: Thực hiện bán buôn, bán lẻ và cung cấp dịch vụ. - Phân loại theo số lượng làng nghề: + Làng một nghề là làng ngoài nghề nông ra chỉ có thêm một nghề phi nông nghiệp xuất hiện, tồn tại và chiếm ưu thế tuyệt đối. + Làng nhiều nghề là làng xuất hiện và tồn tại nhiều nghề có tỉ trọng các nghề chiếm ưu thế gần như tương đương nhau.
Loại làng nhiều nghề gần đây mới xuất hiện và có xu hướng phát triển mạnh. - Phân loại theo thời gian làm nghề: + Làng nghề truyền thống là những làng nghề có lịch sử phát triển lâu đời với những sản phẩm danh tiếng được giữ gìn và truyền lại qua nhiều thế hệ cho đến ngày nay. + Làng nghề mới hình thành là do yêu cầu phát triển kinh tế nhằm nâng cao đời sống trên cơ sở vận dụng các tiềm năng sản xuất của địa phương (chủ yếu là giải quyết vấn đề lao động). Các làng nghề mới hình thành này do còn hạn chế về các điều kiện sản xuất nên sản phẩm của làng nghề thường có chất lượng thấp hoặc ở các công đoạn thô.
- Phân loại làng nghề theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm: Trong những năm gần đây, sự phát triển “nóng” của các làng nghề đã dẫn tới tình trạng ô nhiễm môi trường ở nhiều làng nghề trong cả nước. Căn cứ theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm có thể phân ra các nhóm làng nghề [3] sau: + Làng nghề ô nhiễm nặng là làng nghề có ít nhất một thông số môi trường đặc trưng cho loại hình làng nghề được xem xét trong dòng thải cao hơn 5 lần 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. + Làng nghề ô nhiễm trung bình là làng nghề có ít nhất một thông số môi trường đặc trưng cho loại hình làng nghề được xem xét trong dòng thải cao hơn từ 2 – 5 lần TCCP. + Làng nghề ô nhiễm nhẹ là làng nghề có các thông số môi trường đặc trưng cho loại hình làng nghề được xem xét trong dòng thải không quá 2 lần TCCP.
Phân loại làng nghề theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm nhằm đánh giá đặc trưng và quy mô nguồn thải từ hoạt động sản xuất của các làng nghề. Cách phân loại này đòi hỏi phải có đầy đủ các số liệu về môi trường đất, nước, không khí tại các làng nghề mới đảm bảo độ chính xác. Mỗi cách phân loại nêu trên có những đặc thù riêng và tùy theo mục đích mà có thể lựa chọn cách phân loại phù hợp. Trên cơ sở tiếp cận vấn đề môi trường làng nghề, cách phân loại theo phương thức sản xuất và loại hình sản phẩm là phù hợp hơn cả, vì thực tế cho thấy mỗi ngành nghề, mỗi sản phẩm đều có những yêu cầu khác nhau về nguyên nhiên liệu, quy trình sản xuất khác nhau, nguồn và dạng chất thải khác nhau, và vì vậy có những tác động khác nhau đối với môi trường.
Tác động của sản xuất làng nghề tới kinh tế - xã hội và sức khỏe cộng đồng a) Tác động của sản xuất làng nghề tới kinh tế - xã hội Phát triển sản xuất nghề có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở nông thôn. + Làng nghề góp phần giải quyết việc làm tại chỗ, tận dụng thời gian và lực lượng lao động ở nông thôn: Giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho dân cư nông thôn là vấn đề bức xúc ở nước ta hiện nay. Bởi lao động nông nghiệp chiếm khoảng 70% lao động của cả nước, diện tích đất canh tác bình quân đầu người thấp, người nông dân chỉ sử dụng khoảng 67% thời gian làm nông nghiệp. Vì vậy, tình trạng thiếu việc làm là phổ biến.
Với vai trò đặc biệt, làng nghề đã tạo được một khối lượng lớn công việc, thu hút nhiều lao động ở nông thôn. Phát triển làng nghề có vai trò quan trọng trong giải quyết việc làm cho người lao động không chỉ riêng cho 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com làng đó mà còn cho dân cư của làng khác đến làm thuê. Do đặc điểm sản xuất của các làng nghề hiện nay ở qui mô hộ gia đình là chủ yếu, đồng thời nơi sản xuất cũng chính là nơi ở của người lao động nên có khả năng tận dụng và thu hút nhiều loại lao động, từ lao động thời vụ, nông nhàn đến lao động trên hay dưới độ tuổi lao động vào quá trình sản xuất. Lực lượng lao động này chiếm một tỷ lệ rất đáng kể trong tổng số lao động làng nghề.
+ Làng nghề góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Sự ra đời và phát triển của các làng nghề đã làm biến đổi sâu sắc cơ cấu kinh tế nông thôn. Trên góc độ phân công lao động thì làng nghề có tác động rất tích cực tới sản xuất nông nghiệp. Nó không chỉ cung cấp tư liệu sản xuất mà còn có tác dụng chuyển dịch sâu sắc cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Chẳng hạn, ngành chế biến lương thực, thực phẩm phát triển thì yêu cầu nguyên liệu từ nông nghiệp phải nhiều hơn, đa dạng hơn và chất lượng cao hơn.
Sản xuất phi nông nghiệp ở các làng nghề cho thu nhập và giá trị sản lượng cao hơn hẳn so với sản xuất nông nghiệp. Điều đó khẳng định một hướng đi đúng, nó tạo ra cơ sở kinh tế phi nông nghiệp cho những vùng thuần nông trước đây chỉ chuyên trồng trọt và chăn nuôi. Các làng nghề phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ở nông thôn mở rộng qui mô và địa bàn hoạt động, thu hút nhiều lao động và tăng thu nhập cá nhân.