MỞ ĐẦU Xƣa nay, nói đến trà Việt, ngƣời ta nghĩ ngay đến trà Thái Nguyên. Mặc dù diện tích trồng chè chỉ đứng thứ 2 cả nƣớc, nhƣng Thái Nguyên nằm trong vùng chè lâu đời của Việt Nam, với sản phẩm chè có hƣơng vị đặc trƣng mà không nơi nào khác có đƣợc. Từ rất lâu, chè Thái Nguyên đã đƣợc tôn vinh là “đệ nhất danh trà” của đất nƣớc. Thái Nguyên không chỉ có tiềm năng phát triển kinh tế công nghiệp mà còn có điều kiện cho cây chè phát triển và chè đã thực sự trở thành một sản phẩm mang tính đặc thù của vùng đất Thái Nguyên.
Khác với các vùng đất trồng chè khác của đất nƣớc, chè Thái Nguyên đã trở thành một thƣơng hiệu nổi tiếng đƣợc ngƣời tiêu dùng đánh giá cao. Đất Thái Nguyên, đặc biệt là vùng chè đặc sản Tân Cƣơng đƣợc coi là một trong những vùng cung cấp những loại chè ngon nổi tiếng. Tân Cƣơng Thái Nguyên và vùng chè đặc sản, nổi tiếng không chỉ trong nƣớc mà còn đã có mặt ở nhiều thị trƣờng khó tính nhƣ Mỹ, Nhật, Pháp, Đài Loan, Trung Quốc, Ấn độ, Cộng hòa Séc, một số nƣớc Trung Đông. Sở dĩ ở Tân Cƣơng có những loại chè ngon cũng bởi một phần chất đất ở đây đƣợc trời phú cho tƣơi tốt và có “duyên” với cây chè.
Với truyền thống canh tác đã diễn ra từ rất lâu khoảng trên 50 năm vì vậy chất lƣợng đất và chè nơi đây đang có dấu hiệu suy giảm. Trong quá trình thâm canh ngƣời dân thƣờng sử dụng các loại phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật… để đảm bảo và duy trì năng suất của cây chè, do hoạt động này diễn ra trong thời gian dài sẽ có tác động rất lớn tới môi trƣờng và đặc biệt là môi trƣờng đất cũng nhƣ ảnh hƣởng tới chất lƣợng của sản phẩm chè. Hiện tại, có rất ít các nghiên cứu đánh giá một cách tổng hợp về hiện trạng môi trƣờng đất ở đây và nhằm đánh giá hiện trạng tổng thể môi 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trƣờng đất vùng đặc sản chè Tân Cƣơng và xây dựng các giải pháp quản lý và sử dụng đất trong canh tác chè theo hƣớng bền vững (VietGAP). Xuất phát từ thực trạng đó, tác giả tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng môi trường đất trồng chè và đề xuất các giải pháp quản lý, sử dụng theo hướng bền vững tại vùng chè đặc sản Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên” Đề tài đƣợc thực hiện với các mục tiêu chính sau: - Đánh giá hiện trạng môi trƣờng đất trồng chè tại vùng chè đặc sản Tân Cƣơng.
- Xây dựng các giải pháp quản lý và sử dụng đất trong canh tác chè theo hƣớng bền vững. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Trong sản xuất nông nghiệp, môi trƣờng đất có tốt thì hiệu quả sản xuất mới cao.
Lịch sử của quá trình sử dụng đất đã chứng minh điều đó. Để hình thành đất có độ phì nhiêu cần thiết cho canh tác nông nghiệp phải trải qua hàng nghìn, hàng vạn năm. Điều này khuyến cáo cho mọi ngƣời khi sử dụng đất canh tác nông nghiệp dù có tạo ra sản phẩm tốt, cho hiệu quả kinh tế cao cũng phải cân nhắc để không bị chi phối bởi lợi ích trƣớc mắt, mà quên yếu tố phát triển bền vững lâu dài. Đối với miền đồi núi, việc mất sức sản xuất của đất gò đồi do xói mòn và thoái hóa đất là một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất do con ngƣời gây ra (Dregne, 1992).
Mất rừng, hiệu ứng nhà kính, lũ lụt gia tăng, thiếu nƣớc tƣới và nƣớc sinh hoạt, hiệu quả sử dụng đất dốc giảm đang là tiêu điểm cho những nghiên cứu hiện nay về quản lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ bền vững môi trƣờng đất miền núi. Trong 3 thập kỷ qua, nhiều nƣớc tiên tiến trên thế giới đã tập trung nghiên cứu phƣơng thức tiếp cận sinh thái (hay nông nghiệp bảo tồn – Conservation Agriculture) trong sử dụng đất dốc để phát triển bền vững môi trƣờng sản xuất nông lâm nghiệp, phục hồi môi trƣờng đất các vùng đã suy giảm. Những nội dung cơ bản của cách tiếp cận này là không làm đất hoặc làm đất tối thiểu, luôn duy trì lớp che phủ đất bằng vật liệu hữu cơ (che phủ bằng xác thực vật khô, bằng lớp thực vật sống, luân canh và xen canh), hạn chế sử dụng phân khoáng, hóa chất bảo vệ thực vật, tăng cƣờng sử dụng phân vi sinh, hữu cơ vi sinh cũng nhƣ các chế phẩm sinh học, sử dụng phân bón trung – vi lƣợng qua lá, có chế độ tƣới tiêu hợp lý. Những 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kỹ thuật này đã giúp tăng năng suất cây trồng, đa dạng hoá thu nhập, tăng độ phì, phục hồi môi trƣờng đất và bảo vệ đất khỏi xói mòn.
Những kết quả nghiên cứu của Trung tâm hợp tác quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp vì sự phát triển (CIRAD) của Pháp trong lĩnh vực này, đứng đầu là Lucien Seguy, Francis Forest, v. đã đƣợc triển khai áp dụng trên phạm vi toàn cầu, đi đầu là các nƣớc Mỹ La Tinh và Bắc Mỹ. Tiếp sau là các nƣớc châu Phi và châu Âu. Ở châu Á, Ấn Độ là nƣớc đi đầu với diện tích áp dụng 1,8 triệu ha.
Theo Rolf Derpsch (2005), các kỹ thuật canh tác bảo tồn đã đƣợc áp dụng diện tích 95 triệu ha trên toàn thế giới, đứng đầu là Mỹ (25 tr. ha), sau đó là Brasil (24 tr. ha), Argetina (18 tr. ha), Canada (12 tr.
ha) và Paraguay (1,9 tr. Các biện pháp này đã hạn chế tối đa lƣợng đất bị mất đi do xói mòn và tăng đáng kể hàm lƣợng hữu cơ trong đất, trong khi giảm công làm đất, giảm đầu tƣ phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Cho đến nay, chè đƣợc sản xuất ở 39 nƣớc thuộc cả 5 châu lục, trong đó châu Á có 17 nƣớc (Trung Quốc, Ấn Độ, Srilanka, Indonesia, Thổ Nhĩ Kỳ, Bangladesh, Iran, Việt Nam, Malaysia, Philipines, Nepal, Triều Tiên, Pakistan, Afganistan, Azerbaijan, Campuchia, Nhật Bản), châu Phi có 15 nƣớc (Kenya, Malawi, Uganda, Tanzania, Mozambic, Ruanda, Zaire, Nam Phi, Congo, Cameroon, Burundi, Maroc, Algerie, Zimbabwe, Maustius), châu Mỹ (Nam Mỹ) có 4 nƣớc (Argentina, Brazil, Peru, Ecuado), châu Âu: 03 nƣớc (Georgia, Azerbhaijan, Russian Fed), châu Đại dƣơng: 2 nƣớc (Australia, Papua New Guinea). Các nƣớc sản xuất chính theo thứ tự là: Ấn Độ, Trung Quốc, Kenya, Srilanka, Indonesia, Thổ Nhĩ Kỳ, Việt Nam, Nhật Bản, tám nƣớc này chiếm 88 % tổng sản lƣợng.
Mƣời nƣớc sản xuất hàng đầu đã chi phối hơn 90% tổng sản lƣợng chè toàn thế giới. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong quá trình nghiên cứu về thoái hóa môi trƣờng đất ở các vùng chè nổi tiếng trên thế giới, Uexkull và Mutert E, (1995) chỉ ra rằng chúng đều có các đặc điểm: Độ pH thấp (đất chua); Dung tích hấp thu thấp; Nghèo các chất dinh dƣỡng cả tổng số và dễ tiêu; Độ no bazơ thấp; Độc tố nhôm, sắt nhiều; Mức cố định lân cao; Hoạt động của sinh vật và vi sinh vật thấp; Thành phần sét chứa nhiều các khoáng kém hoạt động bề mặt; Đất chai cứng và bị nén chặt; Khả năng giữ nƣớc và chất dinh dƣỡng kém. Ngƣời ta cũng biết rằng lý tính đất trồng chè có vai trò đặc biệt quan trọng trong canh tác chè trên đất dốc, nhất là các nƣơng chè già cũ, có tuổi đời trên 50 năm. Quá trình đi lại, chăm sóc và cạn kiệt chất hữu cơ đã làm cho đất chặt cứng, không thuận lợi cho cây chè sinh trƣởng và phát triển, vì vậy, các biện pháp cải tạo lý tính đất, làm tăng khả năng giữ nƣớc và lƣu thông chất dinh dƣỡng của đất chè đƣợc coi là bƣớc quan trọng đầu tiên sau đó mới đến cải tạo hóa tính và sinh học tính của đất trồng chè.
Quá trình khai hoang trồng mới chè đã phá vỡ hầu hết thực bì trên bề mặt đất. Qua 4 năm từ lúc khai hoang trồng mới đến hết giai đoạn kiến thiết cơ bản đất bị lộ thiên, dƣới ảnh hƣởng trực tiếp của điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, sự tổn thất về chất hữu cơ càng rõ rệt. Chuyển sang giai đoạn kinh doanh, chế độ canh tác hiện hành đã làm giảm đáng kể lƣợng mùn trong đất. Phân tích đất tại điểm cố định sau khi trồng chè cho thấy: Hàm lƣợng mùn của đất hoang là 2,83%, sau 7 năm trồng chè còn 2,09%, sau 11 năm trồng chè giảm 0,73%, sau 20 năm trồng chè còn 0,61%, sau 30 năm trồng chè còn 0,54%, sau 50 trồng chè chỉ còn 0,51%.
Ngƣời trồng chè ở Sri Lanca và Inđônêxia nhận thấy bón quá nhiều phân hóa học đã làm suy giảm nghiệm trọng chất lƣợng môi trƣờng đất trồng chè. Các điều tra nông học của F. Roule cho thấy trong quy trình canh tác với cây chè ở châu Âu, để chống suy thoái môi trƣờng đất, ngƣời Châu Âu 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thƣờng hay cày vùi phân xanh ở đồi trồng chè lâu năm nhằm tạo lƣợng phân hữu cơ. Trong công trình nghiên cứu: “Nông nghiệp Nhiệt đới”, Angladette khuyến cáo nông dân tận dụng nguồn phân xanh tại chỗ để sản xuất phân hữu cơ bón cho chè.
Điều này làm tăng dự trữ mùn cho đất, tăng độ xốp, khả năng hút nƣớc, khả năng đệm của đất và số lƣợng vi sinh vật trong đất, giúp cải thiện môi trƣờng đất trồng chè. Khoa học gia ngƣời Nhật Bản Ogushi Takashi cũng khuyên nông dân trồng chè của mình nên tận dụng nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp làm phân bón hữu cơ cho cây chè để tăng hàm lƣợng mùn trong đất.K và cộng sự phối trộn nấm cộng sinh Mycorrhiza với phân bón hữu cơ sản xuất từ rơm rạ (thành phân bón hữu cơ vi sinh) và bón cho chè tại Ấn Độ nhận thấy tỷ lệ bệnh trên chè giảm 12%, năng suất tăng 13%, đặc biệt những vùng khô hạn năng suất tăng 18% so với đối chứng. Từ năm 1992 - 1997, Quỹ Kellogg, W. K tài trợ thử nghiệm bón phân hữu cơ đƣợc bổ sung thêm một số loài vi sinh vật có ích thuộc 2 chi: Bacillus, Pseudomonas có khả năng phân giải lân, kali tại 2 vùng trồng chè trọng điểm của Srilanca và nhận thấy năng suất chè tăng 9 – 14% so với đối chứng có bón phân hữu cơ và tăng 17% so với đối chứng không sử dụng 2 loại phân bón này.