Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đau thắt ngực không ổn định (ĐTNKÔĐ) là một thể bệnh lâm sàng thuộc hội chứng động mạch vành cấp (HCĐMVC), hình thành chủ yếu do sự nứt vỡ của các mảng xơ vữa không ổn định dẫn tới sự ngưng tập tiểu cầu và xuất hiện huyết khối nhưng chưa gây tắc nghẽn hoàn toàn lòng động mạch vành. ĐTNKÔĐ có nguy cơ cao tiến triển thành nhồi máu cơ tim cấp và gây ra các biến cố tim mạch nghiêm trọng. Tại Hoa Kỳ, mỗi năm ghi nhận hơn 5 triệu lượt bệnh nhân nhập viện cấp cứu vì đau ngực, trong đó khoảng 1,4 triệu trường hợp được chẩn đoán là ĐTNKÔĐ hoặc nhồi máu cơ tim không có đoạn ST chênh lên.

Nhằm giảm thiểu tỷ lệ tử vong và các biến cố tim mạch, điều trị ức chế ngưng tập tiểu cầu (NTTC) bằng liệu pháp phối hợp đôi (DAPT) giữa aspirin và clopidogrel là phác đồ nền tảng. Tuy nhiên, clopidogrel là một tiền chất cần trải qua quá trình chuyển hóa 2 bước tại gan nhờ hệ thống enzyme Cytochrome P450 (trong đó CYP2C19 giữ vai trò chủ chốt) để tạo thành chất chuyển hóa có hoạt tính ức chế thụ thể P2Y12 trên bề mặt tiểu cầu. Tỷ lệ đáp ứng kém hoặc kháng clopidogrel trên lâm sàng dao động từ 5% đến 44% tùy theo từng quần thể, làm tăng nguy cơ tái phát huyết khối trong stent và biến cố mạch vành. Các biến thể đa hình đơn nucleotide (SNP) trên gen CYP2C19, điển hình là alen CYP2C19*2 và CYP2C19*3, làm giảm hoặc mất hoàn toàn hoạt tính enzyme, dẫn tới giảm hiệu quả ức chế ngưng tập tiểu cầu. Người mang alen CYP2C19*2 có nguy cơ gặp biến cố tim mạch cao gấp 3 lần so với người không mang alen này.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về đa hình gen CYP2C19 trước đây chủ yếu thực hiện trên nhóm bệnh nhân can thiệp mạch vành tại khu vực phía Nam, chưa có công trình nào đánh giá toàn diện trên bệnh nhân ĐTNKÔĐ tại khu vực phía Bắc. Do đó, khóa luận tốt nghiệp ngành Dược học của tác giả Vũ Phương Thảo (Đại học Quốc gia Hà Nội, 2018) được triển khai nhằm giải quyết các mục tiêu sau:

  1. Xác định tần số phân bố kiểu gen CYP2C19*2 và CYP2C19*3 trên bệnh nhân đau thắt ngực không ổn định.
  2. Đánh giá mối liên quan giữa độ ngưng tập tiểu cầu với kiểu gen CYP2C19*2, CYP2C19*3 và một số yếu tố khác trên bệnh nhân đau thắt ngực không ổn định.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: 54 bệnh nhân được chẩn đoán ĐTNKÔĐ theo tiêu chuẩn của ACCF/AHA (2012), điều trị nội trú bằng liệu pháp kháng tiểu cầu kép (Aspirin 100 mg/ngày kết hợp Clopidogrel 75 mg/ngày) đến ngày thứ 3.
  • Phạm vi không gian: Thu thập mẫu bệnh phẩm và theo dõi lâm sàng tại Viện Tim mạch Việt Nam; thực hiện các quy trình thực nghiệm sinh học phân tử tại Bộ môn Y Dược học cơ sở (Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội) và Viện Nghiên cứu Hệ gen.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tiến hành từ tháng 01/2017 đến tháng 01/2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên các cơ sở lý thuyết dược lý học lâm sàng, tim mạch học và di truyền học phân tử:

  • Cơ chế bệnh sinh và đông cầm máu: Quá trình hình thành mảng xơ vữa động mạch; các giai đoạn hoạt hóa, bám dính và ngưng tập tiểu cầu thông qua các thụ thể glycoprotein bề mặt (GP Ib/IX/V, GP Ia/IIa, GP IIb/IIIa) và các thụ thể purinergic (P2Y1, P2Y12, P2X1).
  • Dược lý học thuốc ức chế NTTC: Cơ chế ức chế chọn lọc không hồi phục enzyme cyclooxygenase-1 (COX-1) của aspirin làm giảm tổng hợp Thromboxan A2 (TXA2); con đường chuyển hóa clopidogrel tại gan qua enzyme CYP2C19 để tạo chất có nhóm thiol tự do gắn kết đặc hiệu với thụ thể P2Y12.
  • Cơ sở di truyền gen CYP2C19: Cấu trúc gen CYP2C19 nằm trên nhiễm sắc thể số 10 (10q23.33) gồm 9 exon. Biến thể CYP2C19*2 (rs4244285, c.681G>A tại exon 5) tạo vị trí cắt nối bất thường làm sai lệch khung đọc mã; biến thể CYP2C19*3 (rs4986893, c.636G>A tại exon 4) làm xuất hiện mã kết thúc sớm tại vị trí codon 212. Cả hai biến thể đều mã hóa các protein mất hoạt tính sinh học.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và phân tích dữ liệu:

  • Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, thu thập mẫu thuận tiện ($n = 54$).
  • Tách chiết DNA: Máu toàn phần chống đông bằng EDTA được tách chiết DNA bằng bộ kít thương mại E.Z.N.A. Blood DNA Mini Kit dựa trên nguyên lý hấp phụ cột silica-gel. Nồng độ và độ tinh sạch DNA được đánh giá bằng đo mật độ quang tại bước sóng 260 nm và 280 nm trên máy Eppendorf Bio Photometer Plus và điện di kiểm tra trên gel agarose 0,7%.
  • Khuếch đại chuỗi polymerase (PCR): Sử dụng enzyme Q5 High-Fidelity DNA Polymerase để nhân đoạn gen đặc hiệu chứa alen *2 (độ dài 719 bp, sử dụng cặp mồi CYP2C19*2-F và CYP2C19*2-R) và alen *3 (độ dài 898 bp, sử dụng cặp mồi CYP2C19*3-F và CYP2C19*3-R).
  • Xác định kiểu gen bằng PCR-RFLP: Sản phẩm PCR tinh sạch bằng GeneJET PCR Kit được cắt bằng các enzyme giới hạn tương ứng: enzyme SmaI đối với alen *2 (ủ ở 30°C) và enzyme FastDigest BamHI đối với alen *3 (ủ ở 37°C), sau đó phân tách các phân đoạn DNA bằng điện di trên gel agarose 1,5%.
  • Kiểm chứng bằng giải trình tự Sanger: 15 mẫu PCR đầu tiên được gửi giải trình tự hai chiều tại hãng First Base (Malaysia) và phân tích đối chiếu bằng phần mềm BioEdit version 7.9 để kiểm chứng độ chính xác của kỹ thuật PCR-RFLP.
  • Đo độ ngưng tập tiểu cầu: Đo độ ngưng tập tối đa (MA%) bằng phương pháp đo độ truyền quang trên máy Chrono-LOG (Mỹ), sử dụng chất kích tập ADP 5 µM (hãng Nippon Corporation) trên mẫu huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) và huyết tương nghèo tiểu cầu (PPP) lấy vào ngày thứ 3 dùng thuốc.
  • Xử lý thống kê: Dữ liệu được quản lý và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0, áp dụng các kiểm định t-test, Chi-square ($\chi^2$), ANOVA và kiểm định định luật cân bằng di truyền Hardy-Weinberg (ngưỡng ý nghĩa $p < 0,05$).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Đau thắt ngực không ổn định, ngưng tập tiểu cầu và đa hình di truyền gen CYP2C19

Chương này tổng quan toàn diện các cơ sở lý luận khoa học:

  • Trình bày định nghĩa, phân loại và cơ chế bệnh sinh của ĐTNKÔĐ, vai trò của phản ứng viêm mạn tính với sự tham gia của đại thực bào, tế bào bọt, cytokine và metalloproteinase làm mỏng vỏ xơ dẫn tới nứt vỡ mảng xơ vữa.
  • Mô tả chi tiết 3 giai đoạn hoạt hóa tiểu cầu: bám dính vào lớp dưới nội mô (nhờ collagen, vWF), ngưng tập (qua cầu nối fibrinogen - GP IIb/IIIa) và phóng thích các hạt đậm, hạt alpha chứa ADP, TXA2, serotonin.
  • Phân tích dược động học và dược lực học của aspirin và clopidogrel; chỉ rõ 85% clopidogrel bị bất hoạt bởi esterase và chỉ 15% được chuyển hóa thành chất có hoạt tính nhờ enzyme CYP2C19.
  • Hệ thống hóa cấu trúc di truyền gen CYP2C19, đặc điểm các alen mất chức năng (*2, *3, *4, *5, *6, *7, *8) và alen tăng chức năng (*17).
  • Tổng hợp các nghiên cứu lâm sàng quốc tế (ELEVATE-TIMI 2011, Sibbing 2009, Yang J 2013, Yu Chen 2015) và các công trình trong nước liên quan đến chức năng tiểu cầu và đa hình gen.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình thực nghiệm và phương pháp luận:

  • Nêu rõ tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân ĐTNKÔĐ theo ACCF/AHA (2012) có điều trị DAPT đến ngày thứ 3; đưa ra 6 tiêu chuẩn loại trừ cụ thể (dùng thuốc chống đông/kháng tiểu cầu khác, đang xuất huyết, tai biến mạch máu não < 3 tháng, phẫu thuật < 1 tuần, nguy cơ xuất huyết cao, suy gan/thận giai đoạn cuối).
  • Thiết lập thông số chu trình nhiệt PCR cho đoạn gen chứa alen *2 (nhiệt độ gắn mồi 59°C) và alen *3 (nhiệt độ gắn mồi 68°C).
  • Quy chuẩn kích thước phân đoạn sau cắt enzyme giới hạn: Alen *2 kiểu dại (GG) cắt thành 2 băng 526 bp và 193 bp, kiểu đồng hợp đột biến (AA) giữ nguyên 1 băng 719 bp, dị hợp (GA) gồm 3 băng 719 bp, 526 bp và 193 bp. Alen *3 kiểu dại (GG) cắt thành 2 băng 523 bp và 375 bp, dị hợp (GA) gồm 3 băng 898 bp, 523 bp và 375 bp.
  • Quy chuẩn quy trình đo độ ngưng tập tiểu cầu bằng máy đo quang, kiểm soát điều kiện ly tâm tạo PRP (500 vòng/phút trong 10 phút) và PPP (3000 vòng/phút trong 10 phút).
  • Quy định tiêu chuẩn đạo đức nghiên cứu y sinh học theo phê duyệt của Hội đồng Đạo đức Khoa Y Dược, ĐHQGHN ngày 02/10/2015 (mã đề tài QG.32).

Chương 3: Kết quả và bàn luận

Chương 3 trình bày các số liệu thực nghiệm và thảo luận chuyên sâu:

  • Đánh giá đặc điểm chung: Phân bố bệnh nhân theo giới tính, nhóm tuổi và các yếu tố nguy cơ tim mạch kèm theo.
  • Phân tích các chỉ số cận lâm sàng huyết học, sinh hóa mỡ máu và đông máu cơ bản.
  • Đánh giá chất lượng tách chiết DNA tổng số và hình ảnh điện di sản phẩm PCR của 2 vùng gen mục tiêu.
  • Thể hiện kết quả giải trình tự gen kiểm chứng và kết quả điện di sản phẩm cắt RFLP của các mẫu bệnh nhân.
  • Xác định tần số kiểu gen, tần số alen của CYP2C19*2 và CYP2C19*3, phân loại mức độ chuyển hóa thuốc (bình thường, trung bình, kém).
  • Đánh giá độ ngưng tập tiểu cầu trung bình sau 3 ngày điều trị DAPT và phân tích mối tương quan giữa độ NTTC với kiểu gen và các yếu tố nguy cơ lâm sàng.

Kết quả và đóng góp

1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu và các chỉ số lâm sàng, cận lâm sàng

Khóa luận đã khảo sát 54 bệnh nhân ĐTNKÔĐ tại Viện Tim mạch Việt Nam với các đặc trưng sau:

  • Phân bố giới tính và tuổi: Bệnh nhân nam chiếm ưu thế với 45 trường hợp (83,3%), nữ có 9 trường hợp (16,7%). Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là $63,57 \pm 10,28$ tuổi (dao động từ 42 đến 83 tuổi), chủ yếu tập trung ở nhóm trên 50 tuổi.
  • Phân bố các yếu tố nguy cơ: Tăng huyết áp và hút thuốc lá là hai yếu tố nguy cơ phổ biến nhất (cùng chiếm 68,5%), tiếp theo là rối loạn chuyển hóa lipid (27,8%), đái tháo đường (22,2%) và béo phì (11,1%). Tỷ lệ bệnh nhân mang từ 2 yếu tố nguy cơ trở lên chiếm tới 72,2% (39/54 bệnh nhân).
Yếu tố nguy cơ Tổng ($N=54$) Nam ($N=45$) Nữ ($N=9$) Giá trị $p$
Hút thuốc lá 37 (68,5%) 36 (80,0%) 1 (11,1%) $< 0,001$
Tăng huyết áp 37 (68,5%) 30 (66,7%) 7 (77,8%) $0,512$
Rối loạn chuyển hóa lipid 15 (27,8%) 11 (24,4%) 4 (44,4%) $0,221$
Đái tháo đường 12 (22,2%) 7 (15,6%) 5 (55,6%) $0,008$
Béo phì 6 (11,1%) 6 (13,3%) 0 (0,0%) $0,245$
  • Các chỉ số cận lâm sàng: Kết quả xét nghiệm huyết học (RBC $4,63 \pm 0,54$ T/L; WBC $8,13 \pm 2,60$ G/L; PLT $255,87 \pm 66,56$ G/L), sinh hóa mỡ máu (Cholesterol toàn phần $4,20 \pm 1,01$ mmol/L; Triglycerid $2,08 \pm 1,14$ mmol/L; HDL-C $1,01 \pm 0,25$ mmol/L; LDL-C $2,32 \pm 0,71$ mmol/L) và đông máu (Fibrinogen $3,68 \pm 1,05$ g/L; PT $91,75 \pm 14,17%$; APTT bệnh/chứng $1,08 \pm 0,17$) không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai giới ($p > 0,05$).

2. Kết quả đo độ ngưng tập tiểu cầu

  • Sau 3 ngày dùng phác đồ DAPT phối hợp aspirin (100 mg/ngày) và clopidogrel (75 mg/ngày), độ NTTC tối đa với chất kích tập ADP 5 µM đạt trung bình $31,3 \pm 11,66%$ (giá trị nhỏ nhất 10%, lớn nhất 61%).
  • Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về độ NTTC giữa bệnh nhân nam ($30,93 \pm 11,98%$) và bệnh nhân nữ ($33,11 \pm 10,30%$) với $p = 0,614$.

3. Kết quả xác định kiểu gen CYP2C192 và CYP2C193

  • Quá trình tách chiết DNA đạt nồng độ từ 13,10 ng/µl đến 170,05 ng/µl, tỷ số $OD_{260}/OD_{280}$ nằm trong khoảng 1,806 đến 2,146 bảo đảm độ tinh sạch cao.
  • Kết quả kiểm chứng 15 mẫu đầu bằng giải trình tự Sanger hai chiều cho thấy sự trùng khớp hoàn toàn (100%) với kết quả phân tích bằng kỹ thuật PCR-RFLP.
Alen Kiểu gen Số lượng Tỷ lệ (%) Tần số alen $p$ (Hardy-Weinberg)
CYP2C19*2 GG (Kiểu dại)
GA (Dị hợp)
AA (Đồng hợp)
28
20
6
51,9%
37,0%
11,1%
$\text{Alen G} = 0,70$
$\text{Alen A} = 0,30$
$0,41$
CYP2C19*3 GG (Kiểu dại)
GA (Dị hợp)
AA (Đồng hợp)
48
6
0
88,9%
11,1%
0,0%
$\text{Alen G} = 0,94$
$\text{Alen A} = 0,06$
$0,67$
  • Tần số phân bố của cả hai alen đều tuân theo định luật cân bằng di truyền Hardy-Weinberg ($p > 0,05$).
  • Tần số tổ hợp các kiểu gen CYP2C19 trên 54 bệnh nhân được ghi nhận:
    • Kiểu gen *1/*1: 24 bệnh nhân (44,4%)
    • Kiểu gen *1/*2: 18 bệnh nhân (33,3%)
    • Kiểu gen *1/*3: 4 bệnh nhân (7,4%)
    • Kiểu gen *2/*2: 6 bệnh nhân (11,1%)
    • Kiểu gen *2/*3: 2 bệnh nhân (3,8%)
    • Kiểu gen *3/*3: 0 bệnh nhân (0,0%)
Mức tác dụng dược lý Kiểu gen quy định Số bệnh nhân ($N=54$) Tỷ lệ (%)
Chuyển hóa thuốc bình thường *1/*1 24 44,4%
Chuyển hóa thuốc trung bình *1/*2, *1/*3 22 40,7%
Chuyển hóa thuốc kém *2/*2, *2/*3, *3/*3 8 14,8%

Như vậy, tổng tỷ lệ bệnh nhân mang kiểu gen quy định giảm hoặc mất hoạt tính chuyển hóa thuốc (chuyển hóa trung bình và chuyển hóa kém) chiếm tới 55,6% (30/54 bệnh nhân).

4. Đóng góp và giải pháp khoa học

  • Đóng góp khoa học: Khóa luận cung cấp những số liệu dịch tễ di truyền học phân tử thực nghiệm đầu tiên về tần số alen và kiểu gen CYP2C19*2, CYP2C19*3 trên bệnh nhân ĐTNKÔĐ tại khu vực miền Bắc Việt Nam (Viện Tim mạch Việt Nam).
  • Ý nghĩa thực tiễn và giải pháp: Tác giả đề xuất quy trình kỹ thuật PCR-RFLP như một giải pháp xét nghiệm định kiểu gen nhanh, có độ chính xác cao và chi phí hợp lý, có thể áp dụng thường quy tại các cơ sở y tế nhằm sàng lọc trước điều trị, hỗ trợ bác sĩ cá thể hóa phác đồ kháng tiểu cầu (điều chỉnh liều clopidogrel hoặc chuyển sang thuốc kháng P2Y12 khác) cho nhóm bệnh nhân mang gen chuyển hóa kém.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Cỡ mẫu nghiên cứu còn hạn chế ($n = 54$), được thu thập theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện tại một trung tâm duy nhất (Viện Tim mạch Việt Nam).
    • Nghiên cứu chỉ tập trung phân tích 2 biến thể phổ biến nhất ở người châu Á là CYP2C19*2 và CYP2C19*3, mặc định coi các vị trí đa hình khác là kiểu dại (*1) do giới hạn về nguồn kinh phí.
    • Thời điểm đo độ ngưng tập tiểu cầu mới chỉ đánh giá tại một mốc duy nhất (ngày thứ 3 sau dùng thuốc), chưa theo dõi dọc biến thiên độ NTTC và các biến cố tim mạch lâm sàng dài hạn (1 tháng, 6 tháng, 1 năm).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng cỡ mẫu và thực hiện nghiên cứu đa trung tâm trên nhiều nhóm bệnh nhân HCĐMVC khác nhau.
    • Khảo sát bổ sung các alen đa hình khác như CYP2C19*17 (tăng hoạt tính) cũng như các đa hình trên các gen liên quan khác (ABCB1, PON1, P2RY12).
    • Thiết kế nghiên cứu đoàn hệ theo dõi dọc để đánh giá trực tiếp mối tương quan giữa kiểu gen, độ NTTC với tỷ lệ xuất hiện biến cố huyết khối trong stent và biến cố tim mạch chính (MACE) trong thực hành lâm sàng.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo:
    • Sinh viên, học viên sau đại học ngành Dược học (chuyên ngành Dược lý - Dược lâm sàng), Y khoa (chuyên ngành Tim mạch, Nội khoa) và Sinh học phân tử y sinh.
    • Các dược sĩ lâm sàng và bác sĩ tim mạch quan tâm đến cá thể hóa điều trị bằng thuốc chống huyết khối.
  • Các nội dung có giá trị sử dụng:
    • Tham khảo chi tiết quy trình thực nghiệm PCR-RFLP nhân dòng và cắt enzyme giới hạn cho các đa hình CYP2C19*2 và CYP2C19*3, bao gồm trình tự mồi, nồng độ thành phần phản ứng và thông số luân nhiệt.
    • Sử dụng số liệu tần số kiểu gen và tần số alen đột biến để đối chiếu, so sánh trong các nghiên cứu dịch tễ dược di truyền học trên quần thể người Việt Nam.
    • Tham khảo quy trình chuẩn bị mẫu và phương pháp đo độ ngưng tập tiểu cầu quang học sử dụng chất kích tập ADP 5 µM.

Câu hỏi thường gặp

1. Nghiên cứu sử dụng tiêu chuẩn nào để lựa chọn bệnh nhân và phác đồ dùng thuốc cụ thể là gì?

Bệnh nhân được lựa chọn theo tiêu chuẩn chẩn đoán đau thắt ngực không ổn định của ACCF/AHA (2012). Tất cả bệnh nhân tham gia đều được điều trị nội trú bằng liệu pháp kháng tiểu cầu kép (DAPT) bao gồm aspirin liều duy trì 100 mg/ngày phối hợp clopidogrel liều duy trì 75 mg/ngày và được lấy mẫu xét nghiệm vào ngày thứ 3 sau khi nhập viện điều trị.

2. Kỹ thuật nào được sử dụng để xác định kiểu gen CYP2C19 và độ chính xác được kiểm chứng ra sao?

Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật PCR-RFLP (Polymerase Chain Reaction - Restriction Fragment Length Polymorphism). Đoạn gen đích được nhân bản bằng PCR với cặp mồi đặc hiệu, sau đó cắt bằng enzyme giới hạn SmaI (đối với alen *2) và FastDigest BamHI (đối với alen *3), phân tích kích thước băng điện di trên gel agarose 1,5%. Độ chính xác của quy trình RFLP đã được kiểm chứng bằng phương pháp giải trình tự gen Sanger hai chiều trên 15 mẫu bệnh nhân đầu tiên tại hãng First Base (Malaysia) và cho kết quả trùng khớp hoàn toàn (100%).

3. Tần số alen đột biến CYP2C192 và CYP2C193 được ghi nhận là bao nhiêu trong nhóm nghiên cứu?

Tần số alen đột biến CYP2C19*2 (alen A) là 0,30 (30%), trong khi alen kiểu dại G là 0,70. Đối với biến thể CYP2C19*3, tần số alen đột biến (alen A) là 0,06 (6%), alen kiểu dại G là 0,94. Phân bố tần số của cả hai alen đều tuân theo định luật cân bằng di truyền Hardy-Weinberg ($p = 0,41$ đối với alen *2 và $p = 0,67$ đối với alen *3).

4. Tỷ lệ bệnh nhân mang kiểu hình giảm hoặc mất chức năng chuyển hóa clopidogrel trong nghiên cứu là bao nhiêu?

Theo phân loại tác dụng dược lý dựa trên kiểu gen, tỷ lệ bệnh nhân có khả năng chuyển hóa thuốc bình thường (kiểu gen *1/*1) chiếm 44,4% (24 bệnh nhân). Nhóm chuyển hóa thuốc trung bình (kiểu gen *1/*2, *1/*3) chiếm 40,7% (22 bệnh nhân) và nhóm chuyển hóa thuốc kém (kiểu gen *2/*2, *2/*3) chiếm 14,8% (8 bệnh nhân). Tổng tỷ lệ bệnh nhân mang gen quy định chuyển hóa giảm hoặc kém chiếm tới 55,6% (30/54 bệnh nhân).

5. Kết quả đo độ ngưng tập tiểu cầu bằng chất kích tập ADP đạt giá trị như thế nào?

Đo độ ngưng tập tiểu cầu tối đa (MA%) bằng phương pháp đo quang với chất kích tập ADP 5 µM trên máy Chrono-LOG vào ngày thứ 3 dùng phác đồ DAPT ghi nhận giá trị trung bình là $31,3 \pm 11,66%$, nằm trong khoảng từ 10% đến 61%. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về độ ngưng tập tiểu cầu giữa nhóm bệnh nhân nam ($30,93 \pm 11,98%$) và bệnh nhân nữ ($33,11 \pm 10,30%$) với $p = 0,614$.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Phương Thảo đã xác định thành công đặc điểm dịch tễ di truyền gen CYP2C19 trên 54 bệnh nhân đau thắt ngực không ổn định tại Viện Tim mạch Việt Nam, ghi nhận tỷ lệ mang alen giảm/mất hoạt tính (CYP2C19*2 và CYP2C19*3) chiếm tới 55,6%. Nghiên cứu đã tối ưu hóa và kiểm chứng thành công phương pháp PCR-RFLP đối chiếu với giải trình tự Sanger, cho thấy đây là kỹ thuật định kiểu gen tin cậy và tiết kiệm chi phí. Kết quả đo độ ngưng tập tiểu cầu trung bình ($31,3 \pm 11,66%$) cung cấp cơ sở dữ liệu dược lý thực nghiệm quan trọng, hỗ trợ định hướng cá thể hóa điều trị thuốc kháng tiểu cầu clopidogrel trong thực hành tim mạch lâm sàng tại Việt Nam.