ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là nƣớc có hệ thực vật giàu có bậc nhất Đông Nam Á, là nơi tập trung nhiều cây thuốc quý hiếm, với hơn 54 dân tộc sinh sống và họ có truyền thống lâu đời trong việc sử dụng các loại cây để làm thuốc. Hiện nay, việc bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc đang đƣợc ngành Lâm Nghiệp quan tâm bởi chúng không chỉ đem lại cho ngƣời dân nguồn thu nhập hay thuốc chữa bệnh mà còn đem lại giá trị quan trọng trong hệ sinh thái và đa dạng sinh học. Trong những năm gần đây, cũng có nhiều đề tài nghiên cứu về việc bảo tồn và phát triển các loài cây thuốc quý hiếm nhƣ cây sâm Ngọc linh, Ba kích, Hoàng đắng,…nhƣng vẫn chƣa có một đề tài nghiên cứu nào nói về cây Cát sâm. Cát sâm (Callerya speciosa Schott (Champ.
Cây Cát sâm có rễ củ đƣợc dùng làm thuốc có tác dụng thông kinh hoạt lạc, bổ nhuận phế, chữa cơ thể suy nhƣợc, kém ăn, ho nhiều đờm, nhức đầu, sốt, bí tiểu tiện. Chính vì cây Cát Sâm có nhiều lợi ích nhƣ thế nên đã bị khai thác một cách quá mức và nơi khu cƣ trú bị thu hẹp do rừng thƣờng xuyên bị chặt phá, khai thác nhiều để làm thuốc hay do sự chuyển đổi mục đích sử dụng rừng để kinh doanh các loại cây công nghiệp hoặc cây ăn quả. Cây Cát Sâm đã đƣợc xếp vào nhóm VU sách đỏ Việt Nam 2007. Tại xã Bình Sơn có một số hộ gia đình đã giữ lại cây Cát sâm và nhân giống trồng với mục đích lấy củ để làm thuốc.
Những hoạt động này đã góp phần bảo tồn loài đƣợc nguồn gencủa loài Cát sâm. Tuy nhiên, chƣa có nghiên cứu nào đánh giá các mô hình trên. Vì vậy, để phản ánh đƣợc thực trạng bảo tồn nguồn gen Cát sâm trong nhân dân tôi triển khai làm khóa luận về đề tài “ Đánh giá mô hình bảo tồn loài Cát sâm (Callerya speciasa Champ.) tại xã Bình Sơn huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang” là cần thiết và ý nghĩa. 1 Phần 1 TỔNG QUAN VẦN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về các công trình đã công bố vấn đề nghiên cứu. Lược sử nghiên cứu trên thế giới.Những nghiên cứu bảo tồn và phát triển nguồn gen thực vật rừng. Trải qua nhiều thế kỷ, con ngƣời vẫn luôn coi trọng cây cỏ nhƣ là một nguồn thuốc chủ yếu để phòng và chữa bệnh. Theo WHO đến năm 1985, trên thế giới đã có khoảng 20.000 loài thực vật đƣợc dùng trực tiếp để làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất tự nhiên để làm thuốc.
Trong đó, vùng nhiệt đới châu Á ƣớc tính có khoảng 6.500 loài thực vật có hoa đƣợc dùng làm thuốc.000 loài, Trung Quốc 5. Bên cạnh việc sử dụng cây thuốc ở dạng cổ truyền (cao, thuốc ngâm rƣợu, thuốc sắc,…); thì nhiều năm nay ngƣời ta đã chế đƣợc ra nhiều loại thuốc hiện đại có nguồn gốc từ tự nhiên. Cho đến nay chƣa có con số chính xác thống kê về tổng số lƣợng thực vật đƣợc sử dụng là bao nhiêu, chỉ đoán là rất lớn. Theo thống kê của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) trên thế giới có khoảng 250.000 loài thực vật bậc cao thì có đến 35.000 loài đƣợc sử dụng vào mục đích chữa bệnh.
Trong đó Trung Quốc có trên 10.000 loài, Ấn Độ có khoảng 7.000 loài, Indonesia có khoảng 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài, Hàn Quốc có khoảng 1.000 loài có thể sử dụng đƣợc trong y học truyền thống. Châu Mỹ La Tinh nơi có chứa 1/3 số loài thực vật trên thế giới cũng có truyền thống sử dụng cây cỏ làm thuốc, đặc biệt là ở ngƣời dân bản địa.Schule đã phát hiện gần 2.000 loài cây thuốc đƣợc sử dụng ở vùng Amazon thuộc Colombia. Các quốc gia Châu Phi có số loài cây thuốc ít hơn nhƣ Somalia có 200 loài, Botswana có 314 loài. Các tài liệu cổ xƣa nhất về sử dụng cây thuốc đã đƣợc ngƣời Ai Cập cổ đại ghi chép trong thời gian khoảng 3.600 năm trƣớc đây với 800 bài thuốc và trên 700 cây thuốc trong đó có cây Lô hội, Kỳ nham, Gai dầu.
Ngƣời Trung 2 Quốc cổ đại ghi chép trong bộ Thần nông bản thảo 365 vị và loài cây thuốc (khoảng 5.000 năm trƣớc đây). Nền y học cổ truyền của Trung Quốc và Ấn Độ đều ghi nhận lịch sử sử dụng các cây cỏ làm thuốc có cách đây 3.Vào đầu thế kỷ thứ II ở Trung Quốc, ngƣời ta đã biết dùng các lá của cây chè (Thea siamensis L.) đặc để rửa các vết thƣơng và tắm ghẻ. Thần Nông là ngƣời đầu sƣu tầm, ghi chép nên 365 vị thuốc Đông Y trong cuốn sách "Mục lục thuốc thảo mộc" từ hàng ngàn năm trƣớc đây. Từ thời cổ xƣa các chiến binh La Mã đã dùng cây Lô hội (Aloe barbadensis Mill.) để rửa các vết thƣơng cho chóng lành sẹo mà ngày nay đã đƣợc các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc chứng minh.Kinh nghiệm của ngƣời cổ Hy Lạp và La Mã dùng vỏ quả Óc chó (Juglans regia L.) dùng để chữa loét vết thƣơng lâu ngày.
Trong chƣơng trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên khu vực Đông Nam Á, Perry đã nghiên cứu hơn 1.000 tài liệu khoa học về thực vật và dƣợc liệu đã đƣợc công bố và đƣợc các nhà khoa học kiểm chứng và tổng hợp thành cuốn sách về cây thuốc vùng Đông và Đông Nam Á "Medicinal Plants of East and South east Asia" 1985. Theo Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thế giới (IUNC) cho biết trong tổng số 43.000 loài thực vật mà cơ quan này có thông tin, hiện tại có khoảng 30.000 loài đƣợc coi là tuyệt chủng ở mức độ khác nhau. Nhiều quốc gia trên Thế giới đã có nhiều chính sách cụ thể để vừa bảo tồn, vừa khai thác hợp lý nguồn gen cây thuốc. Đáng chú ý ở Nam Ninh (Trung Quốc) có vƣờn thuốc rộng 250ha, đã thu thập và trồng đƣợc 2.500 loài cây thuốc, vƣờn phát triển cây thuốc ở Bắc Kinh rộng hơn 70ha đã trồng đƣợc hơn 1.000 loài cây thuốc.
Hiện đại hóa nền y học cổ truyền đƣợc nhiều Tổ chức; Chính phủ quan tâm nhằm tạo ra những dạng bào chế mới; thuốc mới đáp ứng nhu cầu làm thuốc dự phòng và chữa bệnh.Cho tới nay có hơn 30.000 hoạt chất đƣợc tách chiết từ nguồn thực vật, rất nhiều hoạt chất có giá trị cao. Nhu cầu về hoạt 3 chất có nguồn gốc thực vật ngày càng tăng, trong khi đó nguồn thực vật cung cấp có hạn, phụ thuộc vào nhiều vấn đề: Năng suất, điều kiện khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, điều kiện thổ nhƣỡng,… Chính vì vậy, nuôi cấy sinh khối tế bào thực vật đƣợc nhiều quốc gia quan tâm, đầu tƣ phát triển… Những sản phẩm của sinh khối tế bào thực vật đã đƣợc thƣơng mại hóa, có giá trị cao trong nhiều lĩnh vực: dƣợc phẩm (thuốc điều trị các bệnh đái đƣờng, bệnh tim mạch, bệnh gan mật, thuốc bổ dƣỡng,. các thực phẩm bổ dƣỡng, mỹ phẩm, chất phụ gia thực phẩm (chất màu, hƣơng liệu, gia vị, các chất dùng trong chế biến thực phẩm), các chất dùng trong nông nghiệp,… Các hoạt động mƣu cầu cuộc sống của con ngƣời ngày nay đã và đang gây sức ép lên sự sinh tồn của các loài cây thuốc trên thế giới. Nhiều loài thuốc quý hiếm bị khai thác bừa bãi nên đang đứng trƣớc nguy cơ bị tuyệt chủng hoặc đã bị tuyệt chủng.
Theo Raven (1987) và Ole Harmann (1988) trong vòng hơn một trăm năm trở lại đây, có khoảng 1.000 loài thực vật đã bị tuyệt chủng, khoảng 60.000 loài bị gặp rủi ro hoặc sự tồn tại bị đe dọa vào thế kỷ sau. Trong số những loài thực vật bị đe dọa có một tỷ lệ không nhỏ của thực vật có khả năng làm thuốc, hoặc khả năng này con ngƣời chƣa phát hiện mà đã bị tuyệt chủng. Theo Tổ chức Ngân hàng Thế giới (WB), tri thức truyền thống về y học ở Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ La Tinh rất dễ bị đe dọa. Tri thức này đang bị mất với tốc độ nhanh hơn các di sản trí tuệ bản địa khác.
Trên thế giới có khoảng 1.000 loài cây thuốc đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. Trong số đó có khoảng 120 loài ở Ấn Độ, 77 loài ở Trung Quốc, 75 loài ở Maroc, 61 loài ở Thái Lan và 35 loài ở Băngladet. Trƣớc tình hình suy thoái các nguồn gen động thực vật nói chung, trên thế giới đã quan tâm đến vấn đề ngăn chặn sự tuyệt chủng, bảo vệ các nguồn gen quý hiếm từ rất sớm. Công ƣớc CITES (ngày 30 tháng 03 năm 1973) tại Washington với mục tiêu về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã nguy cấp.
Đây chính là công cụ hỗ trợ các quốc gia ngăn chặn buôn bán quốc 4 tế bất hợp pháp không bền vững động thực vật hoang dã, nâng cao nhận thức về bảo tồn loài. Tại Hội nghị quốc tế về bảo tồn quỹ gen cây thuốc họp từ ngày 21 - 27 tháng 03 năm 1983 tại Chiềng Mai - Thái Lan, hàng loạt các công trình nghiên cứu về tính đa dạng và việc bảo tồn cây thuốc đã đƣợc đặt ra. Công ƣớc đa dạng sinh học của hội nghị thƣợng đỉnh về môi trƣờng tại Rio de Janiero năm 1992 có các mục tiêu về bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng các thành phần của đa dạng sinh học, chia sẻ công bằng lợi ích thu đƣợc từ việc sử dụng nguồn gen. Công ƣớc nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc bảo tồn trong các điều kiện tự nhiên với các hoạt động hỗ trợ cho bảo tồn các khu tự nhiên, giải quyết các nhu cầu xác định và giám sát các thành phần đa dạng sinh học quan trọng.
Công ƣớc là chìa khóa quan trọng để ngăn chặn sự tuyệt chủng của các loài động thực vật hoang dã nói chung và thực vật làm thuốc nói riêng trong thế kỷ 21. Xu hƣớng trên thế giới hiện nay là vừa bảo tồn những cây, con thuốc quý hiếm, vừa có kế hoạch khai thác có hiệu quả những nguồn gen này để chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học tạo ra những sản phẩm mới có chất lƣợng cao, giá thành phù hợp. Tình hình nghiên cứu bảo tồn và phát triển loài Cát sâm trên thế giới.
Tên khoa học: Callerya speciosa Schott. Thuộc: Họ Đậu (Fabaceae) Hình thái: Cát sâm đã đƣợc nhiều tác giả ở nhiều quốc gia và tổ chức mô tả. Việc mô tả nhìn chung có sự thống nhất cao giữa các tác giả. Theo cuốn Hệ thực vật rừng Trung Quốc.
Cát sâm là cây thân thảo leo cuốn sống nhiều năm, rễ củ to, dạng trụ không đều nhau, kích thƣớc biến đổi nhiều.