Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1,1, Đánh giá là học tập 1. Định nghĩa Việc nghiên cứu bất kì một vẫn đề nào cũng đòi hỏi sự hiểu biết nhất định về các khái niệm, thuật ngữ liên quan, và đánh giá là học tập không hè là một ngoại lệ. Mặc dù thuật ngữ đánh giá là học tập là một thuật ngữ thường xuyên được sử dụng trong nghiên cứu và thực hành, có thê thấy những nhà nghiên cứu giáo dục vân chưa có sự thống nhất về định nghĩa và các đặc điểm khác biệt của thuật ngữ nêu trên so với những thuật ngữ liên quan. Đôi lúc trong việc nghiên cứu và thực hành, việc phân biệt đánh giá là học tập với các khái niệm liên quan khác trở nên rất khó khăn.
Một khái niệm mơ hồ như vậy thực sự là hạn ché cho việc giao tiếp giữa những nhà nghiên cứu với nhau, và lề đó sẽ khó lòng khiến việc thúc day ngành nghiên cứu này phát trién. Chương này trước hết xem xét lại những nỗ lực hình thành khái niệm đánh giá là học tập, sau đó chọn lọc và thống nhất một định nghĩa ngắn gọn, đầy đủ nhất dé làm cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu. Sau đó, khái niệm đánh giá là học tập đó sẽ được đối chiếu với việc đánh giá năng lực (cụ thé là năng lực giải quyết van dé) nhằm tạo ra một cơ sở lý thuyết vững chắc trong việc sử dụng bộ câu hỏi đánh giá trong quá trình dạy học phô thông. Định nghĩa “đánh giá” Trước khi nghiên cứu về khái niệm “đánh giá là học tập”, việc hiểu tường tận khái niệm “danh gia” là một điều cần thiết.
Đánh giá được hiệu là một hành động mà thông qua đó ta nhận định giá trị của khách thể (Từ điển Tiếng Việt, 1997), Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết qua của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã dé ra, nhằm đẻ xuất những quyết định thích hợp dé cải tạo thực trạng, điều chính nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc. Trong phạm vi dạy và học, đánh giá được xem như quá trình ta đưa ra những nhận định sư phạm vẻ việc học của học sinh dựa vào các bằng chứng. Các bằng chứng đó có thê là điểm kiểm tra, thành tích học tập, rèn luyện của học sinh. và đánh giá tức là xem xét các bằng chứng đó và đưa ra nhận định.
Đánh giá cũng có thé được định nghĩa là "*một loạt các phương pháp dé đánh giá học sinh hiệu suất và sự đạt duoc” (Gipps, 201 1). Trong Module 3 (2018), đánh giá học sinh được hiểu là: một quá trình thu thập, xử lí thông tin thông qua các hoạt động quan sat theo déi, trao đôi, kiểm tra, nhận xét quá trình học tập, rèn luyện của học sinh; tư vấn, hướng dẫn, động viên học sinh; diễn giải thông tin định tính hoặc định lượng về kết quả học tập, rèn luyện, sự hình thành và phát triển một số phẩm chat, năng lực của học sinh. (Mô dun 3 kiêm tra đánh giá học sinh trung học phô thông theo hướng phát triển pham chat, năng lực môn toán, 2018) Trong phạm vi bài nghiên cứu này, ta sẽ hiểu đánh giá như cách định nghĩa của module 3, bởi nó bao hàm được định nghĩa đánh giá cũng như đánh giá trong phạm vi giáo dục, đồng thời nhắn mạnh được ý đánh giá năng lực của học sinh, phù hợp với định hướng của bài nghiên cứu này. Có nhiều cách phân loại đánh giá trong giáo dục dựa vào các yếu tô như: quy mô, vị trí của người đánh giá; đặc tinh của câu hỏi; tính chất thường xuyên hay thời điểm hoặc tính chất quy chiều của mục tiêu đánh giá.
tuy nhiên ở đây ta chỉ tập trung vào việc phân loại đánh giá theo quan điểm hiện đại, nghĩa là xem đánh giá như đánh giá giáo duc, bao gồm ba thành phần chính: Đánh giá là học tập, Đánh giá vì học tập và Đánh giá kết quả học tập. Định nghĩa “đánh giá là học tập” Việc nghiên cứu vẻ các loại hình đánh giá khác nhau đã và đang là một van dé nóng bỏng trong giới nghiên cứu về giáo duc. Theo thống kê tông cộng đã có 131 bài báo đã được nhóm nghiên cứu tuyên chon và phục vụ cho quá trình tông hợp tài liệu so sánh về ba loại hình đánh giá phô biến: Đánh giá là học tập, đánh giá vì học tập và đánh giá kết quá học tập. Đa số các nghiên cứu được thực hiện ở Châu Âu (chiếm khoảng 58, 44,2%).
Phần còn lại được viết bởi các tác giả đến từ chau A (khoảng 25, 19,1%), miền Bắc Mỹ (khoảng 20, 15,3%), Úc và New Zealand (khoảng 15, 11,5%), hoặc của các tác giả từ các quốc gia khác, hoặc từ hỗn hợp các quốc gia (13, 9,9%). Với liên quan đến lĩnh vực giáo dục đã được nghiên cứu, gan như đồng đều phân bố ở các trường tiểu học (28,7%), trung học trường học (23,8%) và giáo dục đại học (26,7%). Khu vực giáo dục nghề nghiệp được đại diện ít hơn trong mẫu (2,0%). Da dạng các nghiên cứu bao gồm nhiều hơn một lĩnh vực trong mẫu của họ (18.
Nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện trong 84 (64,1%) nghiên cứu. Phan còn lại các nghiên cứu được phân loại là khái niệm (n = 47) và chứa lý thuyết hoặc nghiên cứu thảo luận (n = 43) hoặc chúng là nghiên cứu tông quan (n = 4). Các phần lớn các nghiên cứu bao gồm nghiên cứu được báo cáo liên quan đến khái niệm của đánh giá vì học tập (n = 109, 83,2%). Khái niệm đánh giá là học tập là chủ dé trong chin nghiên cứu (6.9%), và một nghiên cứu báo cáo những phát hiện liên quan đến khái niệm đánh giá kết quả học tập (0.
Trong 12 (9,2%) nghiên cứu vẻ chủ đề của nghiên cứu có hai hoặc ba quan điểm đánh giá. Trên thực tế, số lượng bài báo nghiên cứu về đánh giá là vượt xa con số nêu trên, chứng tỏ được mức độ quan tâm của các nhà nghiên cứu giáo dục đối với vấn đề đánh giá. Schellekens, 2020) Về cơ bản, có ba hình thức đánh giá chính: Đánh giá là học tập (AaL - Assessment as learning), Đánh giá vì học tập (AfL — Assessment for learning) và Đánh giá kết quả học tập (AoL -Assessment of learning). Sự khác biệt giữa các loại đánh giá trên đã được thảo luận rất kỹ lưỡng về mặt lý thuyết, trong đó đánh giá kết quả học tập chủ yếu là các đánh giá về những gì một học sinh cuồi cùng đã đạt được, đánh giá vì học tập chủ yếu là các đánh giá đẻ hỗ trợ học sinh trên con đường hướng tới đáp ứng kết quả học tap, và đánh giá là học tập chủ yêu là đánh giá có giá trị như một nhiệm vụ học tập theo đúng nghĩa của nó.
Trong đó, đánh giá kết quả học tập là có lịch sử lâu hơn cả. Đúng như tên gọi của nó, đánh giá kết qua học tập có mục tiêu chủ yếu là đánh giá tong kết, xếp loại, lên lớp và chứng nhận kết quả. Đánh giá kết quả học tập diễn ra sau khi học sinh học xong một giai đoạn học tập nhằm xác định xem các mục tiêu dạy học có được thực hiện không và đạt được ở mức nào. giáo viên là trung tâm trong quá trình đánh giá và học sinh không được tham gia vào các khâu của quá trình đánh giá.
Sự xuất hiện của đánh giá kết quả học tập đã có từ hơn một nghìn năm, cụ thé là từ các kỳ Khoa Cử hay Khoa Cử Chế ở Trung Quốc nhằm tuyên chọn người tài. Tuy vậy, đánh giá vì học tập và đánh giá là học tập lại có lịch sử gần đây hơn, và đặc biệt là đánh giá là học tập vẫn đang là một hình thức đánh giá khá mới trong giáo dục hiện đại. Thực chất, sự phân biệt giữa đánh giá là học tập với đánh giá vì học tập cũng không hoàn toàn rõ ràng, thống nhất trong giới nghiên cứu. Một số tác giá (ví du: Earl, 2006, 2013) coi đánh giá là học tập là tập hợp con của đánh giá vi học tập, trong đó tác giả đã đơn giản hóa vai trò của đánh giá là học tập.
Một số tác giả khác (ví dụ, Berry, 2008) phân biệt đánh giá là học tập với đánh giá vì học tập bằng cách chỉ ra vai trò người học hay giáo viên có vai trò chỉ phối trong quá trình đánh giá. Tuy nhiên trong bài nghiên cứu này, đề tiện cho việc theo đối, ta sẽ thông nhất đánh giá là học tập và đánh giá vì học tập là hai khái niệm khác nhau, sau đó mới xét đến mối tương quan giữa chúng. Đánh giá vì học tập là hình thức đánh giá diễn ra thường xuyên trong quá trình dạy học (đánh giá quá trình) nhằm phát hiện sự tiền bộ của học sinh, từ đó hỗ trợ, điều chỉnh quá trình dạy học. Việc đánh giá nhằm cung cấp thông tin dé giáo viên va hoc sinh cải thiện chất lượng dạy học.
Việc chấm điểm (cho điềm và xếp loại) không nhằm dé so sánh giữa các học sinh với nhau mà dé làm nôi bật những điểm mạnh và điềm yếu của mỗi học sinh và cung cấp cho họ thông tin phản hồi đề tiếp tục việc học của mình ở các giai đoạn học tập tiếp theo. giáo viên vẫn giữ vai trò chủ đạo trong đánh giá kết quả học tập, nhưng học sinh cũng được tham gia vào quá trình đánh giá. Học sinh có thẻ tự đánh giá hoặc đánh giá lẫn nhau dưới sự hướng dẫn của giáo viên, qua đó họ tự đánh giá được khả năng học tập của mình dé điều chỉnh hoạt động học tập được tốt hơn. Đánh giá là học tập, mặt khác, nhìn nhận đánh giá với tư cách như là một quá trình học tập.
học sinh cần nhận thức được các nhiệm vụ đánh giá cũng chính là công việc học tập của họ. Việc đánh giá cũng được điển ra thường xuyên, liên tục trong quá trình học tập của học sinh. Đánh giá là học tập tập trung vào bồi đưỡng khả năng tự đánh giá của học sinh (với hai hình thức đánh giá cơ bản là tự đánh giá và đánh giá đông đăng) dưới sự hướng dẫn của giáo viên và có kết hợp với sự đánh giá của giáo viên. Qua đó, học sinh học được cách đánh giá, tự phản hôi với bản thân xem kết quả học tập của mình đến đâu, tốt hay chưa, tốt như thể nào.
Ở đây, học sinh giữ vai trò chủ đạo trong quá trình đánh gia.