phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đánh giá kỹ năng giao tiếp sƣ phạm Chƣơng 2: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐÁNH GIÁ KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƢ PHẠM 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về giao tiếp và giao tiếp sư phạm Giao tiếp là một phạm trù rộng, có rất nhiều quan điểm khác nhau về giao tiếp, và hƣớng nghiên cứu khác nhau bàn về vấn đề giao tiếp. a) Hướng nghiên cứu về cấu trúc của giao tiếp Nhìn nhận giao tiếp dƣới góc độ lý thuyết thông tin và điều khiển học, giao tiếp đƣợc mô tả gồm các yếu tố cấu thành khác nhau.
Theo Wiener (1947), mô hình giao tiếp gồm 5 yếu tố: bộ phát, bộ thu, bản thông điệp, thông tin ngƣợc, điều chỉnh. Nhà xã hội học, điều khiển học ngƣời Mỹ Laswell (1948) cho rằng: giao tiếp sƣ phạm với tƣ cách là một quá trình thông tin phải trả lời các câu hỏi sau: ai nói?, nói gì?, cho ai?, bằng phƣơng tiện gì?, đƣa lại hiệu quả gì?,. trên cơ sở đó ông đề xuất mô hình 5 yếu tố gồm: bộ phát, mã hóa, kênh, giải mã, bộ thu [17]. Theo Jacobson (1961) đƣa ra mô hình giao tiếp theo cấu trúc gồm 6 yếu tố: ngƣời truyện tin, ngƣời nhận tin, bản thông điệp, bộ mã, sự tiếp xúc và bối cảnh giao tiếp.Thines nêu lên mô hình 5 yếu tố gồm: bộ phát, mã hóa, kênh, giải mã, bộ thu.
Mô hình 9 yếu tố: bộ phát, bộ thu, thông điệp, kênh, mã hóa, tiếng ồn, phản hồi, giải mã và đáp lại đƣợc xem là mô hình phổ biến hiện nay [25]. b) Hướng nghiên cứu về bản chất và vai trò của giao tiếp, có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này: - Một số quan điểm của các nhà tâm lý học phƣơng Tây xem giao tiếp chủ yếu theo khía cạnh thông tin, thông báo và truyền thông.Acgyet nhà tâm lý học Mỹ cho rằng: giao tiếp là quá trình truyền và tiếp nhận và trao đổi thông tin giữa con ngƣời với nhau.Acgain nhà tâm lý học ngƣời Anh xem giao tiếp là một quá trình thông báo, thiết lập sự tiếp xúc và 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trao đổi thông tin.Stecren nhà tâm lý học ngƣời Pháp xem giao tiếp là sự trao đổi ý nghĩ, tình cảm, cảm xúc giữa con ngƣời với nhau [32]. - Các nhà tâm lý học Xô Viết coi giao tiếp là một phạm trù tâm lý khá cơ bản của đời sống con người, của mối quan hệ giữa người với người, tiểu biểu là L.Vƣgotxki, giao tiếp là mối quan hệ qua lại giữa con ngƣời với con ngƣời nhƣ là sự trao đổi về quan điểm và cảm xúc [36]. Sau này, quan điểm về bản chất của giao tiếp đƣợc mở rộng và có hai trƣờng phái có quan điểm hoàn toàn không giống nhau: + Quan điểm của trƣờng phái A.Leonchiev cho rằng: giao tiếp là một dạng đặc biệt của hoạt động, có đầy đủ các đặc điểm cơ bản và cấu trúc nhƣ một hoạt động [1].
+ Quan điểm của phái B.Lomov cho rằng: không nên coi giao tiếp là một dạng hoạt động, mà nên coi là một phạm trù độc lập, một phạm trù đồng đẳng với phạm trù hoạt động, bởi vì giao tiếp thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể-chủ thể, hoạt động phản ánh mối quan hệ chủ thể-khách thể. Một số tác giả về sau có quan điểm hoàn chỉnh hơn về bản chất của giao tiếp, đó là quá trình trao đổi thông tin, mặt tri giác và tác động qua lại giữa con ngƣời và con ngƣời, tiểu biểu cho quan điểm này là B.Andreva, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quan Uẩn, Trần Trọng Thủy và Nguyễn Sinh Huy,… B.Pareghin cho rằng: giao tiếp là quá trình tác động lẫn nhau, trao đổi thông tin, ảnh hƣởng lẫn nhau, hiểu biết lẫn nhau.Andreva, giao tiếp ba mặt quan hệ hữu cơ với nhau bao gồm: mặt thông tin, mặt tri giác con ngƣời, mặt tác động qua lại giữa con ngƣời và con ngƣời. Nghiên cứu về vai trò của giao tiếp đối với con ngƣời, có một số quan điểm sau: Giao tiếp là điều kiện thực hiện việc giáo dục, truyền đạt kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác (V.M Becherep, 1921); giao tiếp là 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com điều kiện cho bất cứ hoạt động nào của con ngƣời (A.Leonchiev, 1978); xem giao tiếp là sự trao đổi thông tin giữa con ngƣời với nhau và sự trao đổi thông tin này gọi là tiếp xúc (K. Nhƣ vậy, giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin, tình cảm, tri giác lẫn nhau và tác động qua lẫn nhau.
c) Nghiên cứu về giao tiếp sư phạm A.Pêtrovxki (1982) đã chỉ ra các đặc trƣng của của giao tiếp sƣ phạm, nhân cách trong cấu trúc giao tiếp sƣ phạm, quá trình giao tiếp sƣ phạm và kỹ năng giao tiếp sƣ phạm của GV với học sinh. Kế thừa kết quả nghiên cứu trên, các tác giả Trần Trọng Thủy (1985); Ngô Công Hoàn (1992); Ngô Công Hoàn và Hoàng Anh (1999); Hoàng Anh (1997) tập trung phân tích các quan hệ giao tiếp và ảnh hƣởng của giao tiếp tới sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh ở các lứa tuổi khác nhau, mối quan hệ qua lại giữa hoạt động chủ đạo và giao tiếp trong mỗi hoạt động đó [2][4]. Ngoài ra, còn phải còn một số nghiên cứu về những trở ngại tâm lí trong giao tiếp sƣ phạm (Sakanova ,1985; Nguyễn Thanh Bình, 1997), về nhu cầu giao tiếp của sinh viên sƣ phạm (Nguyễn Thanh Bình, 1991) [11]; đặc điểm giao tiếp của học sinh dân tộc Mƣờng (Phạm Song Hà, 2012) [18]. Nghiên cứu về giao tiếp trong giáo dục mầm non đƣợc tác giả Ngô Công Hoàn (1997), Lê Xuân Hồng và Vũ Thị Ngân (2000, 2004), Nguyễn Ngọc Trinh (2013), Nguyễn Thị Bích Cẩm (2014),.
cập đến vấn đề nhƣ những đặc điểm phát triển nhu cầu giao tiếp của trẻ mầm non, đặc điểm giao tiếp sƣ phạm của ngƣời lớn với trẻ, những nguyên tắc và phƣơng thức giao tiếp ứng xử giữa cô giáo và trẻ mầm non, về các yếu tố ảnh hƣởng đến sự phát triển kỹ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo [13][21][24][51]. Nghiên cứu về cấu trúc của kỹ năng giao tiếp sư phạm Theo tác giả, Nguyễn Quang Uẩn, nghiên cứu cấu trúc KNGTSP dƣới góc độ tâm lý học đƣợc nhìn nhận ở hai phƣơng diện sau: 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Phƣơng diện thứ nhất xem cấu trúc KNGTSP gồm hai cấp độ: cấp độ tri thức và cấp độ thao tác, hành động. Ở cấp độ tri thức, chủ thể giao tiếp vận dụng tri thức về khoa học giao tiếp vào việc thiết lập và duy trì mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời. Ở cấp độ thao tác, hành động: chủ thể giao tiếp tiến hành các hành động, thao tác giao tiếp có ý thức phù hợp với điều kiện thực tiễn [54].
- Phƣơng diện thứ hai: KNGTSP có cấu trúc phức tạp gồm nhiều nhóm kỹ năng thành phần, căn cứ vào quá trình giao tiếp, các bƣớc tiến hành một pha giao tiếp mà mỗi tác giả đƣa ra các nhóm KNGTSP khác nhau, dƣới đây là một số quan điểm tiêu biểu: A. Dakharov dựa vào trật tự các bƣớc tiến hành một pha giao tiếp gồm 4 nhóm kỹ năng thành phần nhƣ: kỹ năng đóng vai trò tích cực, chủ động trong giao tiếp; kỹ năng thể hiện sự thụ động trong giao tiếp; kỹ năng điều khiển, điều chỉnh, cân bằng trong giao tiếp; kỹ năng diễn đạt cụ thể, dễ hiểu trong giao tiếp [33].Cubanova và Ph.Rakhmatylina cho rằng: có 3 nhóm kỹ năng giao tiếp, gồm nhóm kỹ năng định hƣớng trƣớc khi giao tiếp, nhóm kỹ năng tiếp xúc xảy ra trong quá trình giao tiếp, nhóm kỹ năng hƣớng quá trình giao tiếp đến các định hƣớng giá trị khác nhau [31][32]. Tùy thuộc vào từng đối tƣợng giao tiếp cụ thể mà các nghiên cứu sau này nhấn mạnh hoặc bổ sung một số KNGTSP cụ thể. Tác giả Hoàng Anh (1992) cho rằng, “giao tiếp sƣ phạm là bộ phận cấu thành nên năng lực sƣ phạm của ngƣời giáo viên” [5].
Trong cấu trúc nhân cách của ngƣời thầy, xét về mặt năng lực, một trong những năng lực ngƣời giáo viên cần phải có đó là 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năng lực giao tiếp với học sinh và phụ huynh. Theo tác giả Hoàng Thị Anh (1992), KNGTSP gồm 3 nhóm kỹ năng: nhóm kỹ năng định hƣớng, nhóm kỹ năng điều khiển đối tƣợng giao tiếp bản thân và đối phƣơng [6]; kỹ năng định hƣớng, kỹ năng định vị, kỹ năng điều khiển giao tiếp (Lê Xuân Hồng, 2000) [24]; biết định hƣớng, hiểu đƣợc các dấu hiệu bên ngoài của ngôn ngữ trong giao tiếp, biết điểu khiển quá trình giao tiếp (Nguyễn Đình Chỉnh-Phạm Ngọc Uyển, 1998); kỹ năng định hƣớng, kỹ năng định vị, kỹ năng điều chỉnh/điều khiển quá trình giao tiếp, kỹ năng điều khiển bản thân, kỹ năng sử dụng phƣơng tiện giao tiếp, kỹ năng ứng xử sƣ phạm khéo léo (Nguyễn Văn Lũy và Lê Quang Sơn, 2015) [35]. Theo Nguyễn Bá Minh (2013), căn cứ vào một quá trình giáo tiếp gồm các kỹ năng nhƣ nhóm kỹ năng lập kế hoạch giao tiếp, nhóm kỹ năng thực hiện kế hoạch giáo tiếp và nhóm kỹ năng kết thúc- đánh giá cuộc giao tiếp [37]. Mặc dù có sự khác biệt trong phân chia KNGTSP thành các kỹ năng thành phần nhƣng hầu hết các tác giả đều nhất trí rằng, việc phân chia các KNGTSP nói trên chỉ có tính chất tƣơng đối, giữa các kỹ năng có quan hệ mật thiết, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, là cơ sở của nhau, giúp cho quá trình giao tiếp diễn ra tốt đẹp, đem lại hiệu quả cao.
Nhƣ vậy, các nghiên cứu trên cho thấy, mặc dù sử dụng tên gọi khác nhau nhƣng cấu trúc KNGTSP gồm 3 nhóm kỹ năng cơ bản: nhóm kỹ năng định hƣớng, nhóm kỹ năng định vị và nhóm kỹ năng điều khiển, điều chỉnh quá trình giao tiếp. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiếp tục kế thừa việc phân chia cấu trúc KNGTSP thành 3 nhóm kỹ năng nêu trên, đồng thời để thuận tiện cho việc đo lƣờng và đánh giá, chúng tôi chia nhóm kỹ năng điều khiển, điều chỉnh quá trình giáo tiếp thành các nhóm kỹ năng điều khiển đối tƣợng giao tiếp đối tƣợng giao tiếp, điều chỉnh bản thân chủ thể giao tiếp và kỹ năng sử dụng phƣơng tiện giao tiếp. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nghiên cứu về đo lường và đánh giá kỹ năng giao tiếp sư phạm V.
Dakharov đã xây dựng trắc nghiệm kỹ năng giao tiếp gồm 80 items (câu hỏi tình huống) để đo lƣờng 10 nhóm KNGT sau: 1.