Chương I TS DAC DIEM DIA LY TU NHIEN, KINH TE - XA HOI L1. ĐẶC DIEM DJA LY TY NHIEN 1.1 Vị trí địa lý Khánh Hòa thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ có diện tích tự nhiên là 5.197 kmỶ, chiếm 1,58% diện tích của cả nước và đứng hàng thứ 27 về diện tích trong số 64 tỉnh, thành phố nước ta, nằm trong tọa độ địa lý: Từ 11941'53°” đến 12952'35? vĩ độ bắc; Từ 108940°26'? đến 109923'24”' kinh độ Đông. Khánh Hòa có thềm lục địa và vùng lãnh hải rộng lớn với đường bờ biển đài gan 400 km (kể cả các đảo), hơn 200 đảo lớn, nhỏ nằm rải rác trên biển, trong đó có quần đảo Trường Sa giữ vị trí rất quan trong ve an ninh, quốc phòng và kinh tế của nước ta. Khánh Hòa năm trên hệ thống đường giao thông quan 1 trong của cả nước, bao gồm đầy đủ các tuyến đường bộ (QLIA, QL26, QL27B va rat nhiéu đường liên tỉnh, liên huyện, liên xã), đường sắt Bắc - Nam, đường biển (với các cảng biển Nha Trang, Cam Ranh, Ba Ngòi, Hòn Khói), đường hàng không (với sân bay Cam Ranh, Nha Trang) nói liền Khánh Hòa với mọi miền đất nước và giao lưu thuận tiện giữa các địa phương trong tỉnh.
Vị trí địa lý nêu trên đã tạo ra lợi thế ít nơi nào có được cho Khánh Hòa dé phat triển mạnh nền kinh tế - xã hội nói chung và phát huy một trong những nguồn lực quan trọng của Tỉnh nhà là khai thác, chế biến, tiêu thụ khoáng sản VLXD, nước khoáng, bùn khoáng nói riêng. I-1-2 Đặc điểm địa hình Trên phạm vi toàn tỉnh có thể phân biệt 3 loại địa hình: - Địa hình núi thấp đến trung bình: phân bỗ ở phía tây trong phạm vi các huyện Khánh Vĩnh, Khánh Sơn, Ninh Hòa, Vạn Ninh; độ cao tuyệt đôi các đỉnh thường gặp từ 400- 600 m, có nơi đạt tới trên 2000 m (đỉnh Chư Mư 2.021m - tây Ninh Hòa ); địa hình bị phân cắt phức tạp, bề mặt lởm chởm , đỉnh núi nhọn và sườn dốc - Địa hình đồi: phân bố tập trung ở ven quốc lộ IA và chung quanh thành phố Nha Trang; độ cao tuyệt đối các đỉnh thường gặp từ 50-250 m, có đặc điểm sườn thoải, đỉnh tròn, gò đồi, núi thấp xen kế với các thung lũng sông suối nhỏ, khá bằng phẳng, nghiêng vẻ phía biển. - Địa hình đồng bằng và côn cát ven biển: phân bố thành một dải kéo dài theo bờ biển, độ cao tuyệt đối dưới 50 m. Do bị:một số dãy núi phân cắt, đã hình thành ba đồng bằng riêng biệt: * Đồng bằng Vạn Ninh - Ninh Hòa: diện tích khoảng 833 km’, d6 cao tuyét đôi 5-15m , bề mặt địa hình nghiêng về phía đông nam.
* Đồng bằng Diên Khánh - Nha Trang: diện tích khoảng 377 km’, phan phia tay doc sông Chò từ Khánh Bình đến Diên Đồng bị bóc mòn, độ cao tuyệt đối 10-20 m; phan phía đông là địa hình tích tụ độ cao tuyệt đối dưới 10 m, bề mặt địa hình bị phân cắt mạnh bởi các dòng chảy. 8 Liên đoàn ĐCTV- ĐCCT miễn Trung, 2007 * Đồng bằng Cam Ranh: diện tích khoảng 300 km bằng phẳng, ít phân cắt , độ cao tăng dẫn về phía tây từ 2-30 m Ngoài ra, trên các bán đảo Cam Ranh , Hòn Gốm còn có những cồn cát, đụn cát trắng, cát vàng , độ cao 10-20 m. Các loại khoáng sản VLXD chủ yếu phân bố ở khu vực núi thấp đến trung bình (đá granit XD, đá phun trào XD, đá ô ốp láÐ; đất san lắp tập trung nhiều ở các vùng đồi; khu vực đồng bằng gặp phổ biến các loại cát XD, sét gạch ngói, cát thủy tỉnh, nước khoáng nóng, bùn khoáng. 1-1-3 Đặc điểm khí hậu Khánh Hoà chịu sự chỉ phối chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang tính chất khí hậu Đại đương nên có những nét độc đáo, riêng biệt.
Tuy nhiên, vẫn nhận rõ sự phân mùa trong một năm như sau : - Từ tháng 1 đến tháng 8 là mùa khô, thời tiết thay đổi dần. Những tháng đầu mùa trời mát, nhiệt độ từ 17° - 25°C, nhung tir thang 5 dén tháng 8 trời nóng nyc, nhiệt độ có thể lên tới 34°C (ở Nha Trang ) va 37° - 38°C (@ Cam Ranh). - Từ tháng 9 đến tháng 12 là mùa mưa, nhiệt độ không khí thay đổi từ 20 đến 27°C (ở Nha Trang) và 20-36 °C (ở Cam Ranh), mưa lớn tập trung vào tháng 11, tháng 12 gây lũ lụt ở nhiêu nơi trong tỉnh. Các yếu tố đặc trưng của khí hậu Khánh Hòa, theo số liệu đo ở các trạm Ninh Hòa, Nha Trang, Cam Ranh có thể nhận rõ sự biến đổi các yếu tố khí tượng theo vị trí neg gian trong, tỉnh: lượng mưa hàng năm giảm dần từ bắc đến nam và độ 4m không khí (%) ít thay đổi.
Lượng mưa trung bình năm trên dưới 2.000 mm, tập trung chủ yếu vào mùa mưa. Về chế độ gió, trừ quần đảo Trường Sa, Khánh Hòa ít khi có có gió lớn. Tốc độ gió thường gặp 2 - 5 m/s, hiém khi có gió đạt tốc độ trên 5. Hướng gió đông nam (SE) thịnh hành từ tháng 4 đến | thang 9; thời gian còn lại (tháng 10 đến hết tháng 3 năm sau) gió chuyên sang hướng bắc (N), đông bắc (NE) hoặc đông (E).
Đặc biệt xuất hiện gió tây khô và nóng (thường bắt đầu vào tháng 6, kết thúc vào tháng 9) và gió Tu Bông (khô lạnh, liên tục, gió nhiều và có tốc độ lớn, xuất hiện trong khoảng từ tháng 11 đến tháng 3). Đặc điểm khí hậu Khánh Hòa rất thuận lợi cho các hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản bởi tính chất ôn hòa, thời gian mưa ngắn. I-1-4 Đặc điểm thủy văn Do cầu tạo các dãy núi chạy gần sát biển, nhiều chỗ đuôi núi thò ra tận biển, hình thành hệ thống sông, suối trong tỉnh Khánh Hòa khá phong phú với mật độ 0,5 - 1 km/km’, có đặc điểm chung là ngắn và dốc, phân bé trong 3 lưu vực sau: - Lưu vực sông Dinh (sông Cái Ninh Hòa); - Lưu vực sông Cái Nha Trang; - Các lưu vực suối trong đồng bằng Cam Ranh, đáng kế nhất là lưu vực suối Trà Dục - Suối Hành. ọ —_ Liênđoàn ĐCTV- ĐCCT miễn Trung, 2007 Báo cáo “Đánh giá kinh tệ địa chốt khoảng sản VLXD, nước khoáng và bùn khoáng của tỉnh Khánh Hòa” Bảng I.1: Đặc trưng chế độ dòng chảy sông, suối tĩnh khánh Hòa Diện | Lượng | Lớp | , t9 ˆ Ä tích mua | dong lượng | Mô đun Hệ số Thê tích 1 : dong dong dong lưu TB chảy : dong TT Số năm năm chảy chảy chả chay, ong dem) (mm) | (mm) | "am (Vskm? | °*Y ) (10°m?) (mm) 1 | Sông Cái Nha Trang| 2000| 1722| 1113| 70,58 35,3 | 0,65 2,226 2_ | Sông Cái Ninh Hòa 964| 1440| 9134| 12,36 29| 0,63 0,389 3 | Sông Đồng Điển 106| 1615| 736,4 1,94 234| 0,46 0,062 4 | Sông Tô Hạp 300 | 20301 977,1 9,23 31} 0,48 0,291 - Lưu vực sông Dinh: chủ yếu nằm trong phạm vi huyện | Ninh Hòa.
Sông Dinh bắt nguồn từ núi Chư Mư (2.021m ) dài 49 km, qua Ninh Hòa, đỗ vào cửa Hà Liên. Nó có nhiều chi lưu như sông Đá Bản, sông Tân Lâm, suối Trầu. Bề rộng của lòng sông Dinh thay đổi từ 5-30 m ở thượng lưu và rộng tới 150 m ở cửa sông. Hệ số uốn khúc 1,4, độ dốc chung của lưu vực 18 %o.
Theo số liệu đo của Tổng, cục Khí tượng thủy văn, lưu lượng bình quân mùa kiệt của sông Dinh là 2,1 m 3/ và tong lượng nước bình quân năm là 697 triệu mỶ/năm. Tuy nhiên, lượng nước phân bố không đều, khoảng 70 % tập trung vào mùa lũ, do đó việc sử dụng nguồn nước gặp nhiều khó khăn. Trong phạm vi lưu vực sông Dinh, hiện có một số công trình thủy lợi lớn như: hồ Đá Bàn, hồ Suối Trầu, hồ Suối Sim, đập dâng sông Cái, đập Dự Trừ, đập Bến Bắp. Nhiệm vụ chung của các công trình này là nhằm lấy nước tưới cho khoảng 12.520 ha ruộng lúa và hoa màu, cấp nước sinh hoạt, nước cho các đìa tôm trong huyện Ninh Hòa.
Nước sông Dinh đang được dùng làm nguồn nước sinh hoạt cho nhân dân ven sông và ' thị trấn Ninh Hòa. Ngoài ra, sông Dinh còn có tiềm năng thủy điện lớn, hiện tại đang xây dựng công trình thủy điện Ea Krông Rou. Phân bố theo đông chảy của sông Dinh là các bãi cát sỏi XD, còn phần hạ nguồn của lưu vực sông tập trung các thân sét , đang được khai thác làm gạch ngói. - Lưu vực sông Cải Nha Trang: lớn nhất tỉnh, có điện tích lưu vực 2000 km? bao trùm huyện Khánh Vĩnh, Diên Khánh, Nha Trang.
Sông Cái Nha Trang bắt t nguồn từ núi Chư Tgo (1.475 m) chảy về hướng đông - nam, đến Buôn Trai thì đổi sang hướng đông, chảy ra biển. Sông Cái có các chỉ lưu chính là sông Khế, sông Giang, sông Cầu, sông Chò và suối Dâu. Tại Nha ‘Trang, s6ng Cai chia tách ra thành 2 nhánh “Hà Ra” và “Xóm Bóng”. Sông Cái có bề rộng thường gặp 40 - 60 m, ở hạ lưu rộng tới 250m, mức độ uôn khúc vừa phải, độ dốc lưu vực khoảng 23⁄4.
Tông lượng nước sông Cái đỗ ra biển hàng năm đạt tới 2. Tại trạm Đồng Trăng kết quả đo lưu lượng nhiều năm (1990 - 1994) cho thấy: nhỏ nhất vào tháng 4 là 16,6 m”⁄s, lớn nhất vào tháng Illa 135,3 m’/s; phía đưới trạm Đồng Trăng còn có sông Chò (lưu vực 63 km?) và suối Dầu (lưu vực 32 km”) bỗ sung nước cho sông Cái với lưu lượng khoáng 1. Về mùa lũ, nước sông bị đục do vật chất hữu cơ và cát bùn được mang theo từ thượng nguồn, về mùa khô nước trong. Nước sông cái thường bị nhiễm mặn vào : mùa khô, có năm nước mặn xâm nhập theo sông sâu vào 10-15 km, gây khó khăn cho cấp nước sinh hoạt của thành phố Nha trang.
10 Liên đoàn ĐCTV- ĐCCT miễn Trung, 2007 Đối với mục đích sử dụng nước cho sinh hoạt, kết quả đánh giá chất lượng tại các trạm Khánh Vĩnh, Diên Khánh và Cầu Sắt đã cho phép kết luận nước sông chủ yếu bị nhiễm bẩn nhẹ do gia tăng hàm lượng chất lơ lửng (trong cả năm) và COD, Fe (mùa khô xấp xi giới hạn cho phép), ở trạm Diên Khánh. Còn ở trạm khác chỉ có hàm lượng chất lơ lửng vượt quá giới hạn cho phép. Hiện nay, nước sông Cái Nha Trang được khai thác tại hai trạm Võ Cạnh và Xuân Phong đẻ cung cấp cho sinh hoạt ở thành phố Nha Trang, với cung lượng khoảng 30.