Đặt vấn đề Ô nhiễm nguồn nước ở Việt Nam là một trong những vấn đề quan trọng cần giải quyết trong tình hình hiện nay. Trước áp lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nước đang bị ô nhiễm và có dấu hiệu suy giảm (Nguyễn Minh Kỳ và ctv, 2020), đặc biệt là tình trạng ô nhiễm nước thải dệt nhuộm do hệ thống xử lí nước thải chỉ được xây dựng ở các nhà máy lớn, còn lại hầu như vẫn chưa có hệ thống xử lí và vẫn còn tình trạng thải trực tiếp ra môi trường bên ngoài. Loại nước thải dệt nhuộm có độ kiềm hoặc độ axit cao, màu đậm, có nhiều chất hữu cơ và vô cơ sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng và quan thể thậm chí là quan xã sinh vật. Trên thực tế đã có rất nhiều công trình nghiên cứu các phương pháp đề xử lí thuốc nhuộm trong nước thải, chẳng hạn: phương pháp hấp phụ, phương pháp keo tụ, phương pháp trao đổi ion.
Trong những phương pháp ké trên, phương pháp hap phụ được xem là có nhiều ưu điểm hơn bởi dé thực hiện, thao tác đơn giản, vật liệu hấp phụ đa dạng, mang lại hiệu quả cao và ít tốn kém về mặt kinh tế so với những phương pháp khác. Trong bối cảnh của Việt Nam, với đặc thù là một nước nông nghiệp, hàng chục triệu tan lúa nước được sản xuất hằng năm nhằm mục đích tiêu dùng và xuất khẩu, kéo theo đó là lượng phụ phẩm nông nghiệp không lồ. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tính đến tháng 12/2021 tổng sản lượng lúa của Việt Nam dat 43,88 triệu tan với lượng rơm rạ phát sinh hơn 40 triệu tấn. Do đó việc thu gom, tận dụng, chế biến phụ phẩm nông nghiệp nhằm giảm thiểu tác động ô nhiễm môi trường còn nhiều thách thức, khó khăn.
Trước những mối đe dọa này, cần phải tập trung nghiên cứu và đưa ra các giải pháp phù hợp đề hạn chế những tác động tiêu cực của việc đốt và tiêu hủy không kiểm soát các phụ phẩm rơm rạ này. Các nghiên cứu trước đây ban đầu sử dụng rơm rạ dé làm thanh năng lượng (Hung và ctv, 2018) và sau đó chuyên hóa thành than sinh học. Các sản phẩm than sinh học có nguồn gốc từ sinh khối hoặc phụ phẩm nông nghiệp có chức năng hấp phụ và là chất mang sinh học có khả năng loại bỏ các chất hữu cơ, chất hoạt động bề mặt và các tạp chất, ô nhiễm dinh dưỡng (N, P) từ các loại nước thải. Việc sử dụng than sinh học có nguồn gốc từ các sản phẩm sinh khối nông nghiệp đề hấp thụ các kim loại độc hại đã được triển khai (Zhao và ctv, 2019).
Ngoài ra, than sinh học còn có khả năng xử lý nguồn kháng sinh trong nước ô nhiễm nên tránh được các nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe (Chen và ctv, 2019). Tuy nhiên, hoạt động thu gom ứng dụng làm than sinh học từ rơm rạ cho các mục đích xử lý ô nhiễm môi trường vẫn còn ít được quan tâm. Xuất phát từ những vấn đề trên, nghiên cứu “Ứng dụng xử lý màu xanh Methylene (MB) trong nước thải bằng than sinh học chế biến từ phụ phẩm nông nghiệp (rom ra )” đã được thực hiện. Mục tiêu của đề tài Nghiên cứu ứng dụng than sinh học từ rơm rạ để xử lý màu trong môi trường nước.
Nội dung thực hiện Nghiên cứu thành phần, đặc điểm, cấu trúc của than sinh học từ rơm rạ. Khảo sát ảnh hưởng khả năng xử lý màu xanh Methylene (MB) trong nước khi thay đổi các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ. Khảo sát hiệu quả xử lý chất màu hữu cơ xanh methylene trong nước thải. TONG QUAN TÀI LIEU 2.
Thực trạng nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp tại Việt Nam Việt Nam có truyền thống nông nghiệp lâu đời, với hai vùng đồng bằng phì nhiêu là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, khí hậu nhiệt đới gió mùa phù hợp cho cây nông nghiệp phát triển quanh năm đa dạng loại giống cây trồng, cùng với lực lượng lao động đồi dào nhiều kinh nghiệm đã đưa Việt Nam trở thành một nước lợi thé với nền nông nghiệp phát triển, là chỗ dựa vững chắc cho nền kinh tế cũng như dam bảo an ninh lương thực quốc gia. Sản lượng nông sản Việt Nam đều đạt tương đối tốt qua các năm thê hiện qua biểu đồ sản lượng của ba loại cây trồng: lúa, ngô, rau màu trong giai đoạn từ năm 2019-2021 (Hình 2. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn sản lượng nông sản năm 2021 của cả nước đạt 43,88 triệu tấn lúa, sản lượng ngô đạt 4,43 triệu tan, lạc đạt 426,9 nghìn tan, rau, đậu các loại dat 18. 50000 45000 43450 42690 43880 ~— 40000 n «@ 35000 _ ( WwW =fo}fo}Oo Slưảợng 25000 20000 17950 18330 18400 15000 10000 4780 4590 4430 5000 2019 2020 2021 mLúa mNgô mRau Hình 2.
1 Sản lượng một số loại cây trồng qua_các năm 2019-2021 Nguôn: Tông cục thông kê (2021). Trong quá trình sản xuất nông nghiệp hay chế biến nông sản, bên cạnh những sản pham chính sẽ phát sinh những phế phụ phẩm khác khiến cho nền nông nghiệp đã và đang phải đối mặt với việc xử lý phế thải trồng trọt. Đặc biệt khi mùa thu hoạch đến các phế thải nông nghiệp phát sinh từ hoạt động trồng trot rất đa dạng như: rom, ra, vỏ trấu, vỏ cà phê, bã mía, lõi ngô, xơ dừa, dây khoai, thân cây dau. 2 Phế pham nông nghiệp.
Việt Nam có một nền nông nghiệp phát triển với sản lượng nông sản đạt hàng chục triệu tan mỗi năm kéo theo đó là một lượng phế phẩm nông nghiệp không lồ, tuy nhiên các giải pháp đã và đang được áp dụng trong tận thu phế phụ phẩm nông nghiệp chưa tương xứng với lượng phát sinh hiện nay. Trước đây, khi chưa cơ giới hóa trong nông nghiệp, các phế phẩm nông nghiệp như rom, ra, lõi ngô đã được tái sử dụng. Lõi ngô được sử dụng làm chất đốt trong gia đình. Rơm và rạ vừa được sử dụng làm chất đót, vừa được dùng làm thức ăn trong chăn nuôi đồng thời cũng được dùng làm nguyên liệu ủ phân hữu cơ.
Người nông dân có thé tận dụng nguồn phế pham nông nghiệp vào nhiều mục đích khác nhau. Ngày nay, đời sống được nâng cao, nhu cầu ngày một tăng, áp lực dân số gây nên áp lực an ninh lương thực trên toàn cầu, các sản phẩm cung cấp cho nông nghiệp ngày càng nhiều, nông nghiệp được cơ giới hóa được chú trọng nhưng nó để lại không ít hệ quả ảnh hưởng tới môi trường đời sống con người. Con người không còn chú trọng đến việc tái sử dụng những phế phẩm nông nghiệp, vì thế những phế phẩm nông nghiệp này thường bị bỏ lại ngay tại đồng ruộng sau khi thu hoạch, thậm chí bị đốt ngay tại ruộng gây hậu quả nghiêm trọng tới môi trường đất, môi trường khí và ảnh hưởng các vấn đề nhân sinh xã hội khác. Vấn đề đặt ra hiện nay làm thế nào giải quyết triệt dé việc tái sử dụng phế phẩm nông nghiệp cụ thé là rơm ra dé tạo sinh kế cho người nông dân đồng thời hạn chế mức độ anh hưởng tới môi trường.
1 Thành phan hóa học của rom ra Thành ; Cac hop Độ ¬ : ` Cellulose Hemicellulos. : Lignn Tro Tông phan chat trichly âm Ty lệ ' 7,08 42,41 12,65 18,62 6,48 12,76 100 0 Nguôn: Đặng Tuyết Phương và ctv, 2010. 2 Thành phần tro của rơm rạ Thành phan SiO2 K Na Cácchấtkhác Tổng Tỷ lệ % 72,593 2/636 0,369 24,402 100 Nguôn: Đặng Tuyết Phương va ctv, 2010. Theo số liệu thống kê trong báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn năm 2021, sản lượng lúa của Việt Nam là 43,88 triệu tấn với 42,8 triệu tấn rom ra.
Nhưng khoảng 50 % được tái sử dung dé trồng nam, lót chuồng trại còn lại là đỗ bỏ bừa bãi ngoài đồng gây 6 nhiễm môi trường. Biện pháp xử lý rom ra phổ biến nhất hiện nay là đót, cụ thé rơm ra còn lại sau khi thu hoạch lúa được dé lại trên đồng ruộng cho khô, sau đó người dân thu thành đồng và đốt. Day là cách xử lý nhanh nhất, đơn giản, giảm giá thành, không tốn nhiều công sức, đồng thời tiêu hủy mầm bệnh, không phải tuân theo quy định nghiêm ngặt trong hoạt động vận hành. Nhung nó cũng có nhược điểm làm mat chat dinh dưỡng cho đất, gây ô nhiễm môi trường không khí nghiêm trọng, gây hiệu ứng nhà kính, gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, ảnh hưởng đến giao thông.
Vùi trực tiếp rơm rạ vào đất trên đồng ruộng cũng là giải pháp truyền thống được người nông dân áp dụng. Sau khi thu hoạch lúa, rơm rạ bị bỏ lại ngay trên đồng ruộng. Khi người dân cày xới đất sẽ úp phế phụ phẩm xuống dưới. Nhờ các hoạt động của vi sinh vật, phế phụ pham sẽ được phân hủy để thành các chất hữu co dé sử dụng cho cây trồng trong vụ trồng kế tiếp.
Ưu điểm của hình thức này là giúp tuần hoàn vòng vật chất, cải thiện các đặc tính hóa, sinh học cho đất, nâng cao độ phì của đất và duy trì khả năng sản xuất của đất đồng thời diệt trừ một số mầm sâu bênh hại. Tuy nhiên, việc vùi phế phụ phẩm vào đất ướt sẽ gây ra tình trạng có định đạm tạm thời và làm tăng lượng khí metan phóng thích trong đất, gây ra tình trạng tích lũy các khí nhà kính, tốn công lao động và cần máy móc thích hợp cho làm dat và nó có thé gây ra một số mầm bệnh cho cây trồng. Sử dụng rơm rạ làm thức ăn cho gia súc, đun nấu cũng đem lại hiệu quả kinh tế, tiết kiệm được tiền cho việc mua thức ăn cho gia súc, thu mua những nhiên liệu khác dé dun nấu và hạn chế ô nhiễm môi trường do phế phụ phẩm không đề ngoài đồng. Một số phương pháp khác, rơm rạ được thu gom và làm chín nhằm phân hủy một số độc tô trong rơm rạ do phân bón trong canh tác.
Sau đó ép lại thành bánh rồi nuôi nam trên những bánh rơm đó. Giải pháp này giúp nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân, cải thiện môi trường nông thôn. Tuy nhiên cách này lay mat hàm lượng chất dinh dưỡng của dat, phá vỡ vòng tuần hoàn vật chất trong đất, để áp dụng được cách này người dân cần đầu tư kinh phí dé mua thiết bị, tạo cơ sở nuôi trồng nắm. Ngoài làm giá thể trồng nam, rơm ra còn được sử dụng làm phân hữu cơ.