MỞ ĐẦU Ngày nay, khi đời sống kinh tế xã hội của con ngƣời ngày càng đƣợc nâng cao vấn đề chăm sóc sức khoẻ con ngƣời ngày càng đƣợc quan tâm chú ý. Các ứng dụng khoa học hiện đại trong y học đã giúp sàng lọc nhiều loại thuốc đặc trị những căn bệnh trƣớc kia đƣợc xem là bệnh nan y. Không chỉ dừng lại ở chữa trị, các nhà khoa học còn đi sâu tìm hiểu nguyên nhân, cơ chế của bệnh để đƣa ra phƣơng pháp điều trị tối ƣu. Hiện nay, rất nhiều loại kháng sinh tổng hợp có hiệu quả cao trong việc chữa trị đối với các bệnh do vi sinh vật gây ra đã và đang đƣợc sản xuất với quy môi công nghiệp.
Tuy nhiên việc lạm dụng sử dụng kháng sinh tổng hợp đã làm gia tăng khả năng kháng kháng sinh của vi sinh vật trong khi số kháng sinh tổng hợp mới còn chƣa nhiều. Do đó, việc phát hiện ra các hợp chất kháng khuẩn mới có nguồn gốc từ tự nhiên trở thành một hƣớng nghiên cứu đã và đang đƣợc quan tâm ứng dụng trong điều trị bảo vệ sức khỏe [1]. Việc sử dụng các loại thuốc nguồn gốc tự nhiên này không chỉ giúp cho việc bảo vệ chăm sóc sức khỏe mà còn có tác dụng về bảo vệ môi trƣờng. Trong số các sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên, các hợp chất tách chiết từ thực vật luôn đƣợc quan tâm đặc biệt cả về số lƣợng và chất lƣợng.
Từ lâu, nhiều hợp chất tự nhiên có nguồn gốc từ thực vật nhƣ gừng, bạc hà… đã đƣợc sử dụng trong các bài thuốc dân gian để điều trị. Ngày nay, với sự phát triển của khoa học việc xác định các hoạt chất trong thực vật dùng làm thuốc đã chứng minh hiệu quả từ những kinh nghiệm chữa bệnh dân gian. Bằng kết quả thực nghiệm, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng một số hợp chất trong cây đặc biệt là các chất thứ sinh có giá trị trong chữa bệnh, ức chế sự phát triển của vi sinh vật gây bệnh. Quercetin trong chè xanh, măng cụt,.có tác dụng diệt khuẩn, chữa sâu răng mà không độc với con ngƣời.
Silymarin trong cây kê có tác dụng chống oxi hoá và ngăn ngừa sự phát triển của tế bào ung thƣ. Catechin có trong nhiều loài thực vật ngăn chặn và làm chậm sự phát triển của tế bào khối u. Lào là quốc gia ở Đông Nam Á có khí hậu và thảm thực vật phong phú và đa dạng, dân tộc Lào có truyền thống lâu đời về sử dụng các loài thảo mộc làm thuốc chữa bệnh. Để góp phần nghiên cứu tách chiết và xác định bƣớc đầu thử hoạt tính Luận văn thạc sĩ 1 Kisamone SIHAVONG LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kháng lại một số vi sinh vật gây bệnh của các chất thứ sinh có trong một số loài thực vật phổ biến ở Lào, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Đánh giá khả năng ức chế sự phát triển của vi khuẩn từ dịch chiết một số thực vật thu thập tại Lào” với mục đích tách chiết và bƣớc đầu đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của các phân đoạn dịch chiết đến khả năng phát triển của một số chủng vi sinh vật gây bệnh.
Luận văn thạc sĩ 2 Kisamone SIHAVONG LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vi sinh vật gây bệnh đối với con ngƣời 1. Cơ chế gây bệnh của vi khuẩn Vi khuẩn là các sinh vật đơn bào có hình dạng và hoạt động đơn giản do chúng chƣa có màng nhân. Vi khuẩn có thể xuất hiện ở khắp mọi nơi, sống trong mọi khí hậu và vị trí trên trái đất, trong không khí, nƣớc hoặc đất.
Nhiều vi sinh vật gây hại cho sức khỏe, chúng là tác nhân gây nên các bệnh nhƣ viêm da, viêm màng não hay các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Nhiều loại vi sinh vật hay vi khuẩn có hại cho con ngƣời nhƣng một số lại có lợi nhƣ các loại vi khuẩn có trong đƣờng tiêu hóa chúng giúp hỗ trợ quá trình hấp thu thức ăn, sản xuất vitamin và tăng cƣờng miễn dịch [1]. Độc tính với các tính chất như kết dính, nhân lên và phát triển Kết dính: bƣớc quan trọng đầu tiên trong quá trình tƣơng tác giữa vi khuẩn và vật chủ là sự bám dính của chúng lên bề mặt vật chủ bao gồm da, niêm mạc (khoang miệng, mũi hầu, đƣờng tiết niệu) và các tổ chức sâu hơn nhƣ biểu mô dạ dày, ruột, bề mặt phế nang, tổ chức nội mô. Cơ thể tạo ra nhiều lực cơ học khác nhau nhằm loại bỏ các vi khuẩn ra khỏi các bề mặt này nhƣ bài tiết nƣớc bọt, tiết dịch niêm mạc, ho, nhu động ruột, dòng máu chảy…Đặc điểm chung của các vi khuẩn gây bệnh là chúng có khả năng hình thành các yếu tố giúp chúng chống chịu đƣợc các lực cơ học đó.
Các yếu tố bám dính của vi khuẩn chúng có bản chất là polypeptide hoặc polysaccharide. Khi đã bám dính vào bề mặt tế bào vật chủ, vi khuẩn có khả năng khởi động các quá trình sinh hóa đặc hiệu nhƣ tăng sinh, tiết độc tố, xâm nhập và hoạt hóa các tín hiệu của tế bào vật chủ [26]. Nhân lên và phát triển: sau khi xâm nhập vào vật chủ vi sinh vật gây bệnh có thể sống ký sinh nội bào hoặc ký sinh ngoại bào, và chúng sử dụng dinh dƣỡng của cơ thể vật chủ để tạo năng lƣợng phục vụ cho các hoạt động sống. Vi khuẩn sinh sản vô tính chủ yếu bằng nhân đôi, tùy thuộc điều kiện môi trƣờng mà thời gian nhân lên của chúng khác nhau.
Luận văn thạc sĩ 3 Kisamone SIHAVONG LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kháng lại thực bào: tùy vào đặc tính của từng loài vi sinh vật, từng loại kháng nguyên của chúng mà các chủng vi sinh vật có thể chống lại sự thực bào của hệ thống miễn dịch trong cơ thể vật chủ [26]. Tạo độc tố Độc tố vi khuẩn là những chất của vi khuẩn tạo ra có tác dụng gây độc đối với cơ thể con ngƣời. Độc tố vi khuẩn có hai loại: nội độc tố và ngoại độc tố [26]. Nội độc tố: là những chất mà vi khuẩn sinh ra nằm bên trong tế bào của chúng, không đƣợc tiết ra ngoài môi trƣờng.
Khi tế bào vi khuẩn vào trong tế bào vật chủ, nó tạo ra độc tố đƣợc giải phóng ra ngoài và gây độc. Ngoại độc tố là những độc tố do vi khuẩn tạo ra, chúng đƣợc vi khuẩn tiết ra ngoài môi trƣờng gây độc cho cơ thể vật chủ. Tạo ra các enzym Vi khuẩn có khả năng tạo ra các enzym gây hại cho tế bào vật chủ nhƣ: - Hemolysine: có tác dụng làm tan tế bào. - Streptokinase: làm tan fibrin.
- Hyluronidase: gây tan mô liên kết giúp vi khuẩn có thể lây lan khắp cơ thể. - Steptolysin: làm vỡ màng bạch cầu, chống lại hệ miễn dịch của cơ thể. Ngoài ra vi khuẩn còn có khả năng tiết một số enzyme đề kháng kháng sinh nhƣ lactamase, acetylase… [26]. Một số vi khuẩn gây bệnh ở người 1.1 Vi khuẩn Escherichia coli (E.
coli) Là một nhóm vi khuẩn sống trong đƣờng tiêu hóa (ruột) của ngƣời và động vật (hình 1. Trong đƣờng tiêu hoá E. coli chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các vi khuẩn hiếu khí (khoảng 80%), hầu hết các chủng E. coli không gây hại và đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định sinh lý đƣờng ruột.
Tuy nhiên có 4 nhóm vi khuẩn E. coli có khả năng gây bệnh cho ngƣời và động vật gồm Enteropathogenic E.coli (EIEC) và Enterohaemorrhagic E. coli hiện diện rộng rãi trong các môi trƣờng ô nhiễm (phân, chất thải hữu cơ). coli gây bệnh gây ra các triệu chứng rối loạn đƣờng tiêu hóa, biểu hiện lâm sàng thay đổi từ nhẹ đến rất nặng, có thể dẫn đến tử vong tùy thuộc vào mức độ nhiễm [9].
Luận văn thạc sĩ 4 Kisamone SIHAVONG LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về đặc điểm hình thái: E. coli là trực khuẩn ngắn có 2 đầu tròn, kích thƣớc từ 2-3 µm (đôi khi 4-8 µm trong môi trƣờng ô nhiễm). Chúng có thể đứng riêng lẻ, đôi khi xếp thành chuỗi ngắn. Phần lớn vi khuẩn E.
coli có khả năng di động do có lông ở xung quanh thân, nhƣng cũng một số chủng không có khả năng di động. coli là vi khuẩn Gram âm. Dƣới kính hiển vi điện tử ngƣời ta phát hiện đƣợc cấu trúc pilli-yếu tố mang kháng nguyên bám dính của E. Về đặc điểm cấu trúc: E.
coli đƣợc chia làm các dạng khác nhau dựa vào cấu trúc kháng nguyên than O, kháng nguyên giáp mô K, kháng nguyên lông H và kháng nguyên bám dính F. Bằng phản ứng ngƣng kết, các nhà khoa học đã tìm ra đƣợc 250 serotype O, 89 serotpe K, 56 serotype H và môt số serotype F [4]. Khi xác định serotype đầy đủ của một chủng vi khuẩn E. coli thì phải xác định ở cả 3 loại kháng nguyên trên.
Kháng nguyên O đƣợc coi nhƣ là một yếu tố độc lực có thể tìm thấy ở thành tế bào vi khuẩn và có liên hệ trực tiếp với hệ thống miễn dịch. Kháng nguyên O khi gặp kháng huyết thanh tƣơng ứng sẽ xảy ra phản ứng ngƣng kết. Ngƣng kết kháng ngyên O tạo thành những hạt nhỏ khó tan. Kháng nguyên H (kháng nguyên lông – Hauch) là thành phần lông của vi khuẩn, có bản chất protein, kém bền vững hơn so với kháng nguyên O.
Kháng nguyên H không phải là yếu tố độc lực của vi khuẩn, nhƣng có khả năng tạo miễn dịch mạnh. Phản ứng miễn dịch xảy ra nhanh hơn so với kháng nguyên O. Kháng nguyên H của vi khuẩn E. coli không có vai trò bám dính, không có tính độc và cũng không có ý nghĩa trong đáp ứng miễn dịch phòng vệ nên ít đƣợc quan tâm nghiên cứu, nhƣng có ý nghĩa rất lớn trong xác định tên loài của vi khuẩn [25].
Kháng nguyên K (kháng nguyên vỏ bọc – Capsular), còn đƣợc gọi là kháng nguyên bề mặt (OMP- Outer membrane protein) hoặc kháng nguyên vỏ bọc (Capsular). Vai trò kháng nguyên K chƣa đƣợc rõ ràng. Có nhiều ý kiến cho rằng, nó không có ý nghĩa về mặt độc lực của vi khuẩn [25]. Tuy nhiên, một số ý kiến khác cho rằng nó có ý nghĩa về mặt độc lực vì nó tham gia bảo vệ vi khuẩn trƣớc nhƣng yếu tố phòng vệ của vật chủ.
Các ý kiến đều thống nhất kháng nguyên K có 2 nhiệm vụ sau: Luận văn thạc sĩ 5 Kisamone SIHAVONG LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.