Chương 1: giới thiệu nghiên cứu - Chương 2: tổng quan lý luận - Chương 3: mô hình nghiên cứu - Chương 4: kết quả nghiên cứu và phân tích - Chương 5: kết luận và gợi ý các giải pháp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ LUẬN 2.1 Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp nhỏ và vừa 2.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Ở nhiều quốc gia khác nhau, tiêu chí xác định doanh nghiệp cũng khác nhau điển hình: Theo quan niệm của Ngân hàng Thế giới (WB) Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về phương diện vốn, lao động hay doanh thu. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Trong đó, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động. Theo Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (FASB) định nghĩa DNNVV có khoảng 50 nhân viên và doanh thu hàng năm khoảng 10 triệu euro, thực tế trên dưới 10 nhân viên, không có bộ phận theo dõi tuân thủ chuẩn mực báo cáo tài chính.
Ở Việt Nam theo Khoản 1 Điều 3, Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30 tháng 06 năm 2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm(tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên ). Theo Nghị định trên, DNNVV phải đáp ứng các tiêu chí sau: - Về mặt pháp lý: phải là cơ sở kinh doanh đã kinh doanh theo quy định của pháp luật. - Về quy mô: được phân thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo tổng nguồn vốn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Về vốn đăng ký: phụ thuộc vào quy mô và loại hình doanh nghiệp.
- Về số lượng lao động trung bình hằng năm: phụ thuộc vào quy mô và loại hình doanh nghiệp.1 Phân loại DNNVV theo ngành hoạt động ở Việt Nam DN siêu DN nhỏ DN vừa Quy mô Khu vực nhỏ Số Tổng Số Tổng Số lao động nguồn vốn lao động nguồn vốn lao động I. Nông lâm nghiệp 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 và thủy sản trở xuống trở xuống người đến đồng đến 100 người đến 200 người tỷ đồng 300 người II.Công nghiệp và 10 người 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 xây dựng trở xuống trở xuống người đến đồng đến 100 người đến 200 người tỷ đồng 300 người III.Thương mại và 10 người 10 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 10 tỷ Từ trên 50 dịch vụ trở xuống trở xuống người đến đồng đến 50 người đến 50 người tỷ đồng 100 người (Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP) 2.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Nghiên cứu về mô hình các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên thế giới, có thể nêu lên những nét điển hình như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 - Đặc điểm về hình thức sở hữu: Doanh nghiệp nhỏ và vừa tồn tại và phát triển ở mọi loại hình khác nhau: doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, DNNN, DNTN, công ty TNHH, công ty cổ phần, hợp tác xã. - Đặc điểm về vốn: DNNVV khởi sự với vốn đầu tư ban đầu ít, hoạt động kinh doanh thuộc khu vực kinh tế tư nhân là chủ yếu. Việc mở rộng qui mô đầu tư, đổi mới công nghệ, thiết bị được thực hiện chủ yếu bằng một phần vốn tự có và tín dụng không chính thức như: vay, mượn bạn bè, người thân hay từ các tổ chức tài chính và phi tài chính trong xã hội.
- Năng lực quản lý lao động: Phần lớn các DNNVV có quy mô hoạt động nhỏ, vốn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh thấp, chủ yếu được thành lập dựa trên năng lực, kinh nghiệm của chủ doanh nghiệp. Vì vậy, đội ngũ quản lý còn thiếu trình độ, kỹ năng quản lý, sử dụng kinh nghiệm là chủ yếu chưa có đào tạo chuyên môn, và cũng là những người vừa quản lý vừa tham gia sản xuất, phần lớn họ không qua các lớp đào tạo chính quy, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thực tế nên họ ít quan tâm đến việc đào tạo nâng cao năng lực của mình. - Đặc điểm về lao động:DNNVV Việt Nam phần lớn sử dụng lao động giản đơn, trình độ tay nghề chưa cao, đa số là sử dụng lao động hộ gia đình. Vì vậy, có thể nói chính các DNNVV cũng là nơi đào tạo nguồn lao động ít tốn kém chi phí nhất.
- Đặc điểm về công nghệ và máy móc thiết bị: DNNVV lựa chọn kỹ thuật phù hợp với khả năng về vốn và trình độ lao động, ứng dụng kỹ thuật trong các DNNVV rất đa dạng, phong phú, từ thủ công đến cơ khí hóa, tự động hóa, từ truyền thống đến tiên tiến, hiện đại và họ thường đổi mới công nghệ phù hợp với qui mô của mình. Điều này thể hiện tính linh hoạt trong đổi mới công nghệ, kỹ thuật và tạo nên sự khác biệt về sản phẩm để các DNNVV tồn tại trên thị trường. Tuy nhiên, do không đủ tiềm lực về tài chính nên hạn chế trong việc nghiên cứu, triển khai các công nghệ mới. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 - Khả năng tiếp cận thị trường kém:Nguyên nhân chủ yếu do các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường là các doanh nghiệp mới thành lập, khả năng tài chính cho các hoạt động marketing còn hạn chế, chưa có khách hàng truyền thống, thêm vào đó do quy mô nhỏ nên chỉ bó hẹp trong phạm vi địa phương.
- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa khó tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng, do đó họ thường sử dụng vốn từ các nguồn như: sử dụng vốn tự có của bản thân doanh nghiệp hoặc mượn người thân, bạn bè hoặc vay mượn bên ngoài. Điều này cũng lý giải rằng: quy mô doanh nghiệp nhỏ, nguồn lực tài chính hạn chế, thiếu tài sản bảo đảm, trình độ quản lý chưa cao, sổ sách chứng từ kế toán không đầy đủ rõ ràng, chưa có mối quan hệ nghiệp vụ với ngân hàng, mối quan hệ xã hội còn yếu và đặc biệt là chưa có uy tín trên thị trường.3 Vai trò của DNNVV Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các DNNVV có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung có một số vai trò tương đồng như sau: - Đóng góp phần quan trọng vào GDP: DNNVV thường chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp. - Giữ vai trò ổn định nền kinh tế. - Làm cho nền kinh tế năng động hơn, do có quy mô nhỏ nên dễ điều chỉnh hoạt động, nhanh thích ứng với những biến động của môi trường kinh doanh.
- Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng. - Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như DN lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì DNNVV lại có mặt ở khắp các địa phương và là người đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Lý thuyết về tiếp cận tín dụng Trong quan hệ tín dụng, có hai đối tượng tham gia là người vay và người cho vay. Người vay sử dụng tiền vay trong điều kiện không gian và thời gian nhất định, đồng thời bị chi phối bởi các yếu tố khách quan hay chủ quan.
Mặt khác, vốn tín dụng là một nguồn tài nguyên khan hiếm và khả năng tiếp cận vốn tín dụng của người vay phụ thuộc vào cách đánh giá rủi ro của người cho vay. Việc tiếp cận tín dụng được bắt đầu với lý thuyết cầu tín dụng của một cá nhân hoặc doanh nghiệp với mong muốn tối đa hóa hữu dụng kỳ vọng của họ từ việc vay tiền của các nhà cung cấp tín dụng. Theo Stiglitz và Weiss (1981) cho thấy lý thuyết cung cầu tín dụng dựa vào lãi suất không thể giải thích khả năng tiếp cận vốn của người đi vay do quyết định cung tín dụng không được điều chỉnh bởi lãi suất trên thị trường trong khi quyết định cho vay phụ thuộc vào cách mà người cho vay lựa chọn người đi vay dựa trên thông tin của người đi vay. Theo Stiglitz và Weiss (1981) nghiên cứu tín dụng phân phối tại thị trường với thông tin không hoàn hảo kết quả nghiên cứu cho thấy các tổ chức tín dụng biết được tâm lý đi vay nhằm chia sẽ rủi ro của doanh nghiệp, nhưng do thông tin không hoàn hảo nên các tổ chức tín dụng không biết được chính xác mức độ rủi ro của doanh nghiệp như chính bản thân doanh nghiệp.
Họ cho rằng hạn chế tín dụng xuất phát từ hai loại thông tin bất đối xứng: lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức. Thông tin bất cân xứng trong hợp đồng cho vay làm cho người cho vay không thể phân biệt mức độ rủi ro giữa người đi vay ít rủi ro và người đi vay nhiều rủi ro, và mức độ cố gắng hoàn trả nợ vay của người đi vay. Vấn đề lựa chọn bất lợi phát sinh trong quá trình lựa chọn người đi vay, trong đó việc phân biệt giữa người đi vay ít rủi ro và người đi vay nhiều rủi ro được phản ánh trong lãi suất. Rủi ro đạo đức liên quan đến việc giám sát và thực thi cơ chế cho vay, cụ thể là khả năng người đi vay không nổ lực hoàn trả nợ sau khi nhận được khoản vay vì họ biết người cho vay phải gánh chịu một phần rủi ro.
Nói chung, người cho vay quyết định cấp tín dụng và cấp bao nhiêu dựa trên một tập hợp các thông tin mà họ có được từ người đi vay. Điều đó có nghĩa là không phải tất cả người đi vay sẽ nhận được các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 khoản tín dụng. Thực tế cho thấy có doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn ngân hàng nhưng lại không vay được.