Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Cừu (Ovis aries) là loài gia súc nhai lại nhỏ có vai trò cung cấp thịt, sữa, da và lông phục vụ đời sống con người và các ngành công nghiệp. Tại Việt Nam, giống cừu Phan Rang đã thích nghi và phát triển qua hàng trăm năm tại vùng Nam Trung Bộ khô hạn (chủ yếu là Ninh Thuận và Bình Thuận). Tuy nhiên, cừu là loài nhạy cảm với các biến đổi của môi trường nhiệt ẩm, đặc biệt khi chuyển vùng sinh thái.

Tỉnh Thừa Thiên Huế sở hữu hơn 75% diện tích tự nhiên là đất đồi núi, có nguồn thực bì cây bụi và phụ phẩm nông nghiệp dồi dào, phù hợp cho việc phát triển chăn nuôi gia súc nhai lại. Dù vậy, điều kiện khí hậu tại đây mang tính đặc thù cao: lượng mưa hàng năm lớn (trung bình 3.877 mm/năm, tập trung vào các tháng 9–12), ẩm độ không khí cao quanh năm (trung bình 87,3%), khác biệt hoàn toàn với vùng khô hạn Ninh Thuận. Trước thời điểm nghiên cứu, tại Thừa Thiên Huế chưa có đàn cừu nào được nuôi thử nghiệm hoặc khảo sát. Đồng thời, tại Việt Nam chưa có công trình nào đánh giá toàn diện mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường (nhiệt độ, ẩm độ, chỉ số nhiệt ẩm THI) với trạng thái sinh lý, khả năng sinh trưởng, sinh sản và thu nhận thức ăn của cừu Phan Rang. Việc thực hiện luận án là bước đi cần thiết nhằm cung cấp cơ sở khoa học để di thực và phát triển giống cừu này tại địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Mục tiêu chung: Đánh giá khả năng thích ứng của cừu Phan Rang nuôi trong điều kiện ở Thừa Thiên Huế thông qua các chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng, sinh sản và thu nhận thức ăn của chúng.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Xác định quan hệ giữa nhiệt độ, ẩm độ và chỉ số nhiệt ẩm với các chỉ tiêu sinh lý của cừu Phan Rang nuôi ở Thừa Thiên Huế.
    • Xác định quan hệ giữa nhiệt độ và chỉ số nhiệt ẩm với lượng thức ăn thu nhận của cừu.
    • Xác định khả năng sinh trưởng và sinh sản của cừu Phan Rang nuôi trong điều kiện ở Thừa Thiên Huế.
    • Đánh giá giá trị dinh dưỡng của một số loại thức ăn thô xanh làm thức ăn cho cừu ở Thừa Thiên Huế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Giống cừu Phan Rang ở các giai đoạn tuổi và tính biệt khác nhau (cừu sinh sản, cừu sinh trưởng, cừu đực và cừu cái).
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu được tiến hành tại Trung tâm nghiên cứu vật nuôi Thủy An (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Huế) và so sánh đối chứng với các số liệu tại Ninh Thuận, Ba Vì và Tây Nguyên. Các phân tích phòng thí nghiệm được thực hiện tại Trung tâm phân tích Khoa Chăn nuôi Thú y (Đại học Nông Lâm – Đại học Huế), Khoa Huyết học truyền máu Bệnh viện Trường Đại học Y Dược – Đại học Huế, Phòng Phân tích thức ăn thuộc Viện Chăn nuôi Quốc gia.
  • Phạm vi thời gian: Phân tích dữ liệu khí tượng trong giai đoạn 2007–2011; thực hiện các đợt thí nghiệm nuôi dưỡng, đo đạc sinh lý, huyết học, sinh trưởng, sinh sản và mổ khảo sát thân thịt qua hai mùa rõ rệt (mùa nóng và mùa lạnh) từ sơ sinh đến giai đoạn trưởng thành.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

  • Lịch sử và nguồn gen cừu Phan Rang: Cừu du nhập vào Việt Nam từ đầu thế kỷ 20. Năm 1906, Trại thí nghiệm Suối Dầu (Viện Pasteur Nha Trang) nhập giống cừu Kelantan từ Malaysia, các giống Dishley Merinos, Mérinos d’Arles, Berrichon de l’Indre, Caussinard, Bizet từ Pháp, cùng giống Yunam và Chan Toung từ Trung Quốc (Đoàn Đức Vũ và cộng sự, 2006). Cừu Kelantan thích nghi tốt ở địa phương được dùng làm nền lai tạo với các giống cừu Pháp để tạo nên giống cừu Phan Rang ngày nay. Năm 1994, đề tài "Bảo tồn nguồn gen vật nuôi" của Viện Chăn nuôi đã khôi phục và nhân rộng đàn cừu (Mai và cộng sự, 2006).
  • Khả năng sinh trưởng và sinh sản ở các vùng sinh thái:
    • Tại Ninh Thuận: Cừu cái trưởng thành đạt 29,7 kg, cừu đực đạt 42,4 kg (Đoàn Đức Vũ và cộng sự, 2006); tỷ lệ thịt xẻ lúc 9 tháng tuổi đạt 41,8%, tỷ lệ thịt tinh đạt 30,2% (Đinh Văn Bình và cộng sự, 2005). Tuổi động dục lần đầu là 5,5–6 tháng, tuổi phối giống lần đầu 9–10 tháng, chu kỳ động dục 18–21 ngày, thời gian mang thai 148–151 ngày, khoảng cách lứa đẻ 208–262 ngày, năng suất 1,55 lứa/năm (Mai và cộng sự, 2006).
    • Tại Ba Vì: Đinh Văn Bình và cộng sự (2005, 2007) ghi nhận lúc 12 tháng tuổi cừu đực đạt 29,09–29,32 kg; lúc 18 tháng tuổi cừu cái đạt 28,3 kg và cừu đực đạt 36,1 kg; cừu cái xuất hiện động dục lúc 181 ngày tuổi.
    • Tại Tây Nguyên: Trần Quang Hân (2007a, b) công bố khối lượng 12 tháng tuổi của cừu đực đạt 46,11 kg; lúc trưởng thành cừu cái đạt 41,8 kg và cừu đực đạt 51,37 kg; cừu cái động dục lúc 191,6 ngày tuổi.
  • Nghiên cứu về dinh dưỡng và phụ phẩm cho cừu: Đã có các nghiên cứu đánh giá giá trị dinh dưỡng của lá dâm bụt ủ chua (Nguyễn Xuân Bả và cộng sự, 2004), cỏ voi (Vũ Chí Cương và cộng sự, 2009, 2010), cây xương rồng Opuntia elator (Tien và Beynen, 2005), ngọn lá sắn phơi khô và rơm ủ urê – rỉ mật (Ngô Tiến Dũng và cộng sự, 2004), bã sắn ủ chua (Nguyễn Hải Quân và Nguyễn Xuân Bả, 2008), tảng đá liếm bổ sung khoáng (Đào Đức Kiên và cộng sự, 2006).
  • Stress nhiệt và chỉ số nhiệt ẩm (THI) quốc tế: Nghiên cứu cân bằng nhiệt của Berman và cộng sự (1985); phương trình chỉ số khó chịu của Thom (1959); công thức THI cho cừu của Kelly và Bond (1971), Marai và cộng sự (2000, 2007, 2009); đánh giá phản ứng sinh lý và hô hấp trên cừu Santa Ines (McManus và cộng sự, 2008; Paim và cộng sự, 2012), cừu Merino (Alhidary và cộng sự, 2012; Srikandakumar và cộng sự, 2003), cừu West African Dwarf (Fadare và cộng sự, 2012).
  • Nghiên cứu THI tại Việt Nam: Chủ yếu thực hiện trên bò lai và gia súc lớn (Văn Tiến Dũng và cộng sự, 2010; Đặng Thái Hải và Nguyễn Thị Tú, 2008, 2010; Lê Văn Phước và cộng sự, 2007a, b; Vương Tuấn Thực và cộng sự, 2007; Ngô Sỹ Giai và Trịnh Hoàng Dương, 2009).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây chỉ khảo sát cừu Phan Rang tại vùng nguyên sản (Ninh Thuận) hoặc các vùng có khí hậu khô, mát hơn (Ba Vì, Tây Nguyên). Hoàn toàn chưa có nghiên cứu đánh giá phản ứng sinh lý, huyết học, mức độ stress nhiệt theo thang THI, lượng thức ăn thu nhận và giá trị dinh dưỡng của các nguồn thức ăn thô xanh địa phương đối với cừu Phan Rang nuôi tại khu vực có độ ẩm cao, mưa nhiều và kéo dài như Thừa Thiên Huế.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm áp dụng

  • Phương trình cân bằng nhiệt cơ thể (Berman và cộng sự, 1985): $$M = HS + R + E + C + K$$ Trong đó: $M$ là tổng lượng nhiệt sản sinh của cơ thể; $HS$ là nhiệt dự trữ; $R$ là nhiệt trao đổi bức xạ; $E$ là nhiệt trao đổi bằng bốc hơi nước; $C$ là nhiệt trao đổi bằng đối lưu; $K$ là nhiệt trao đổi bằng truyền dẫn. Vì tuyến mồ hôi của cừu kém phát triển và lớp lông dày hạn chế thoát nhiệt qua da, cơ chế thải nhiệt chủ yếu là bốc hơi qua đường hô hấp ($E$), biểu hiện trực tiếp qua sự biến đổi của tần số hô hấp.
  • Công thức tính chỉ số nhiệt ẩm (THI) theo Marai và cộng sự (2000): $$THI = T_{db} - [(0,31 - 0,31 \times RH) \times (T_{db} - 14,4)]$$ Trong đó: $T_{db}$ là nhiệt độ bầu khô ($^\circ\text{C}$); $RH$ là ẩm độ tương đối của không khí (biểu thị dưới dạng thập phân).
Ngưỡng giá trị THI Mức độ stress nhiệt đối với cừu
$THI \le 22,2$ Không bị stress nhiệt
$22,2 < THI \le 23,3$ Stress nhiệt nhẹ (trung bình)
$23,3 < THI \le 25,6$ Stress nhiệt nghiêm trọng
$THI \ge 25,6$ Stress nhiệt cực kỳ nghiêm trọng

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Phương pháp thu thập dữ liệu khí tượng và môi trường chuồng nuôi

  • Đo nhiệt độ và ẩm độ không khí tự nhiên và trong chuồng nuôi bằng ẩm nhiệt kế tự ghi, đo liên tục theo các thời điểm trong ngày (sáng 7h00, trưa 13h00–14h00, chiều 17h00) qua các mùa thí nghiệm (mùa nóng và mùa lạnh).

Phương pháp xác định chỉ tiêu sinh lý và sinh lý máu

  • Thân nhiệt: Đo bằng nhiệt kế thú y đưa sâu vào trực tràng (độ sâu cố định 5 cm, giữ trong 3 phút).
  • Tần số hô hấp: Đếm số lần nhấp nhô của thành ngực và bụng trong 1 phút khi cừu ở trạng thái yên tĩnh.
  • Nhịp tim: Sử dụng ống nghe y tế đếm nhịp tim ở vùng ngực trái phía sau khớp khuỷu trong 1 phút.
  • Nhiệt độ da: Đo bằng nhiệt kế điện tử tiếp xúc tại bề mặt da dưới lớp lông.
  • Chỉ tiêu sinh lý máu: Lấy máu tĩnh mạch cổ vào buổi sáng trước khi cho ăn, chống đông bằng EDTA. Xác định số lượng hồng cầu (RBC), hàm lượng huyết sắc tố (Hemoglobin – Hb), hematocrit (Hem) và số lượng bạch cầu (WBC) bằng máy huyết học tự động tại Khoa Huyết học truyền máu Bệnh viện Trường Đại học Y Dược – Đại học Huế.

Phương pháp đánh giá sinh trưởng, sinh sản và thân thịt

  • Sinh trưởng: Cân khối lượng cơ thể (LW) định kỳ hàng tháng từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi vào buổi sáng trước khi cho ăn uống; đo kích thước cơ thể: chiều cao vây (CV), vòng ngực (VN), dài thân chéo (DTC). Tính tăng trọng bình quân ngày (ADG).
  • Khảo sát thân thịt: Mổ khảo sát cừu ở các giai đoạn tuổi theo quy trình mổ gia súc nhỏ để xác định khối lượng sống, khối lượng thịt xẻ, tỷ lệ thịt xẻ (%), khối lượng thịt tinh, tỷ lệ thịt tinh (%), khối lượng xương và mỡ.
  • Khả năng sinh sản: Theo dõi tuổi xuất hiện động dục lần đầu, tuổi phối giống lần đầu, thời gian mang thai, khoảng cách giữa 2 lứa đẻ, tỷ lệ đẻ, số con sinh ra trên lứa.

Phương pháp đánh giá giá trị dinh dưỡng và tiêu hóa thức ăn

  • Thí nghiệm tiêu hóa in vivo: Bố trí thí nghiệm trên cừu đực thiến, nuôi trong lồng trao đổi chất chuyên dụng để thu thập toàn bộ lượng thức ăn ăn vào, thức ăn thừa, phân và nước tiểu bài tiết hàng ngày.
  • Phân tích hóa học: Xác định hàm lượng vật chất khô (DM), chất hữu cơ (OM), protein thô (CP), xơ thô (CF), xơ không tan trong môi trường trung tính (NDF), xơ không tan trong môi trường axit (ADF), khoáng tổng số (Ash) theo phương pháp tiêu chuẩn AOAC.
  • Tính toán: Tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến các chất dinh dưỡng (%), hàm lượng dinh dưỡng tiêu hóa và cân bằng tích lũy nitơ (N).

Phương pháp xử lý số liệu thống kê

  • Toàn bộ số liệu được phân tích thống kê theo phương pháp phân tích phương sai (ANOVA), sử dụng mô hình tuyến tính tổng quát (GLM) trên phần mềm thống kê chuyên dụng. Thiết lập các phương trình hồi quy tuyến tính và bậc hai ($Y = ax^2 + bx + c$) để xác định mối tương quan và các ngưỡng biến đổi của chỉ tiêu sinh lý, lượng thức ăn thu nhận theo nhiệt độ, ẩm độ và THI.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết cơ sở lý luận và các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về:

  • Vai trò kinh tế của ngành chăn nuôi cừu trên thế giới (cung cấp thịt, sữa, da, lông, phân bón) và tình hình phân bố đàn cừu toàn cầu (năm 2011 tổng đàn cừu thế giới đạt 1.043,7 triệu con, trong đó châu Á chiếm 45% với 463,6 triệu con).
  • Lịch sử phát triển và hiện trạng chăn nuôi cừu tại Việt Nam: Biến động tổng đàn tại Ninh Thuận qua các thời kỳ (từ 3,2 ngàn con năm 1995 tăng vọt lên 92,1 ngàn con năm 2006, sau đó dao động đạt 82,5 ngàn con năm 2011; phân bố tập trung nhiều nhất ở huyện Thuận Nam chiếm 33,7%).
  • Cơ chế trao đổi nhiệt của cừu với môi trường, các chỉ số môi trường (THI, BGHI, TCI, ESI, HLI, RRP, ETI) và phản ứng của các chỉ tiêu sinh lý (thân nhiệt, tần số hô hấp, nhịp tim, nhiệt độ da, hồng cầu, hemoglobin, hematocrit) khi cừu chịu tác động của stress nhiệt.
  • Điều kiện tự nhiên và khí hậu của hai vùng sinh thái: Ninh Thuận (nắng nóng, khô hạn, lượng mưa thấp) và Thừa Thiên Huế (nhiệt độ trung bình 24,7$^\circ\text{C}$, ẩm độ trung bình 87,3%, lượng mưa 3.877 mm/năm).

Chương 2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu bao gồm 5 nội dung:

  1. Xác định diễn biến nhiệt độ, ẩm độ và THI tại Thừa Thiên Huế so sánh với Ninh Thuận giai đoạn 2007–2011 và trong chuồng nuôi thực nghiệm.
  2. Xác định mối quan hệ giữa nhiệt độ, ẩm độ và THI với các chỉ tiêu sinh lý (thân nhiệt, hô hấp, nhịp tim, nhiệt độ da) và các chỉ tiêu sinh lý máu (RBC, Hb, Hem, WBC) của cừu Phan Rang nuôi ở Thừa Thiên Huế.
  3. Xác định mối quan hệ giữa nhiệt độ và THI với lượng thức ăn thu nhận (DMI) của cừu.
  4. Đánh giá khả năng sinh trưởng (khối lượng qua các tháng tuổi, tăng trọng ADG, kích thước CV, VN, DTC), khả năng sản xuất thịt (mổ khảo sát) và khả năng sinh sản của cừu cái.
  5. Đánh giá giá trị dinh dưỡng, tỷ lệ tiêu hóa và mức độ tích lũy nitơ của một số loại thức ăn thô xanh địa phương sử dụng cho cừu.

Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

1. Diễn biến nhiệt độ, ẩm độ và THI tại điểm nghiên cứu

  • Tại Thừa Thiên Huế, nhiệt độ không khí và THI biến động rõ rệt giữa mùa nóng và mùa lạnh. Vào mùa nóng, giá trị THI chuồng nuôi vào buổi trưa và chiều thường vượt ngưỡng 25,6 (thuộc mức stress nhiệt cực kỳ nghiêm trọng theo thang Marai). Ngược lại, vào mùa lạnh, THI thường nằm trong mức an toàn ($THI \le 22,2$), không gây stress nhiệt cho cừu.
Chỉ tiêu / Thời điểm Mùa nóng (Thừa Thiên Huế) Mùa lạnh (Thừa Thiên Huế) Ninh Thuận (Quanh năm)
Nhiệt độ trung bình ($^\circ\text{C}$) 28,5 – 35,0 18,0 – 24,0 27,0 – 32,0
Ẩm độ tương đối (%) 70,0 – 85,0 85,0 – 95,0 65,0 – 75,0
Mức độ THI phổ biến Cảnh báo đến Stress nghiêm trọng Không stress nhiệt Không stress đến Stress nhẹ

2. Quan hệ giữa nhiệt độ, ẩm độ và THI với các chỉ tiêu sinh lý của cừu

  • Thân nhiệt: Thân nhiệt trung bình của cừu Phan Rang nuôi tại Thừa Thiên Huế duy trì trong giới hạn sinh lý bình thường (38,5–39,5$^\circ\text{C}$). Thân nhiệt có tương quan bậc hai với nhiệt độ chuồng nuôi và THI; biến động theo giờ trong ngày (thấp nhất vào buổi sáng và đạt đỉnh vào buổi chiều khoảng 15h00–17h00).
  • Tần số hô hấp: Là chỉ tiêu nhạy cảm nhất với stress nhiệt. Khi nhiệt độ môi trường và THI tăng cao vào buổi trưa mùa nóng, tần số hô hấp tăng mạnh (từ 25–35 lần/phút lên trên 80–110 lần/phút) nhằm tăng thải nhiệt qua đường hô hấp.
  • Nhịp tim và nhiệt độ da: Nhịp tim tăng theo mức tăng nhiệt độ môi trường nhưng biên độ dao động thấp hơn tần số hô hấp. Nhiệt độ da có mối tương quan thuận chặt chẽ với nhiệt độ không khí và THI chuồng nuôi.
  • Chỉ tiêu sinh lý máu: Số lượng hồng cầu (RBC), hàm lượng hemoglobin (Hb), hematocrit (Hem) và bạch cầu (WBC) của cừu Phan Rang nuôi tại Thừa Thiên Huế nằm trong giới hạn sinh lý bình thường của loài. Có sự biến động về hàm lượng Hb giữa các mùa nhưng không làm suy giảm sức khỏe của đàn cừu.
Chỉ tiêu sinh lý Giá trị trung bình tại Thừa Thiên Huế Mức biến động theo THI chuồng nuôi
Thân nhiệt ($^\circ\text{C}$) 38,82 $\pm$ 0,35 Tăng từ 38,3 lên 39,8 khi THI tăng cao
Tần số hô hấp (lần/phút) 36,5 – 85,2 Tăng mạnh vào buổi trưa mùa nóng (>90 lần/phút)
Nhịp tim (lần/phút) 72,4 – 95,6 Dao động theo nhiệt độ môi trường
Hồng cầu - RBC ($10^6/\text{mm}^3$) 8,2 – 9,8 Không sai khác lớn giữa các buổi đo
Hemoglobin - Hb (g/dl) 10,5 – 11,8 Có biến động nhẹ theo mùa

3. Quan hệ giữa nhiệt độ và THI với lượng thức ăn thu nhận

  • Khi nhiệt độ không khí và chỉ số THI tăng cao trong mùa nóng, lượng vật chất khô thu nhận (DMI) của cừu giảm rõ rệt. Phương trình hồi quy bậc hai thể hiện cừu có xu hướng giảm ăn vào các thời điểm nhiệt độ môi trường vượt ngưỡng $32^\circ\text{C}$ hoặc $THI > 25,6$ nhằm hạn chế sinh nhiệt từ quá trình lên men và tiêu hóa thức ăn trong dạ cỏ.

4. Khả năng sinh trưởng, sản xuất thịt và sinh sản

  • Sinh trưởng: Khối lượng cừu tăng đều qua các tháng tuổi. Tăng trọng bình quân ngày (ADG) đạt mức tương đương với cừu nuôi tại Ninh Thuận và Ba Vì.
    • Sơ sinh: 2,1 – 2,4 kg/con.
    • 6 tháng tuổi: 14,5 – 16,2 kg/con.
    • 12 tháng tuổi: cừu cái đạt 26,5 – 28,5 kg; cừu đực đạt 32,0 – 35,5 kg.
  • Khảo sát thân thịt: Tỷ lệ thịt xẻ đạt từ 41,5% đến 43,2%; tỷ lệ thịt tinh đạt 30,0% đến 31,5%, các chỉ tiêu chất lượng thân thịt tương đương với cừu nuôi tại vùng nguyên sản Ninh Thuận.
  • Khả năng sinh sản: Cừu cái nuôi tại Thừa Thiên Huế biểu hiện động dục lần đầu lúc 6–7 tháng tuổi, phối giống lần đầu lúc 9–10 tháng tuổi; thời gian mang thai trung bình 149–150 ngày; khoảng cách lứa đẻ 210–240 ngày; số con sơ sinh bình quân đạt 1,3–1,5 con/lứa.

5. Giá trị dinh dưỡng của một số thức ăn thô xanh địa phương

  • Khảo sát các loại cỏ và thức ăn thô xanh sẵn có tại Thừa Thiên Huế (cỏ voi, cỏ tự nhiên, phụ phẩm lá cây bụi).
  • Cừu Phan Rang có khả năng tiêu hóa tốt các loại thức ăn thô xanh địa phương: Tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ (OM) và xơ (NDF, ADF) đạt mức khá, cân bằng nitơ luôn dương, đảm bảo duy trì sinh trưởng và thể trạng bình thường.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt học thuật và lý luận

  1. Cung cấp hệ thống dẫn liệu khoa học hoàn chỉnh đầu tiên tại Việt Nam về các chỉ tiêu sinh lý (thân nhiệt, hô hấp, nhịp tim, nhiệt độ da), huyết học (RBC, Hb, Hem, WBC) và tập tính thu nhận thức ăn của cừu Phan Rang trong điều kiện vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, mưa nhiều (Thừa Thiên Huế).
  2. Xác lập được các phương trình tương quan toán học bậc hai giữa nhiệt độ không khí, độ ẩm tương đối và chỉ số nhiệt ẩm (THI) với các phản ứng thải nhiệt sinh lý và lượng vật chất khô ăn vào của cừu Phan Rang.
  3. Bổ sung cơ sở dữ liệu về tính đa dạng sinh thái và khả năng thích nghi rộng của giống cừu Phan Rang khi di chuyển ra ngoài vùng sinh thái khô hạn nguyên sản (Nam Trung Bộ).

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất

  1. Khẳng định tính khả thi: Chứng minh cừu Phan Rang hoàn toàn có khả năng thích ứng, sinh trưởng, sinh sản và cho chất lượng thân thịt tốt trong điều kiện tự nhiên của tỉnh Thừa Thiên Huế.
  2. Giải pháp chuồng trại và quản lý:
    • Thiết kế chuồng nuôi cao ráo, thông thoáng vào mùa nóng để giảm thiểu tác động bất lợi của THI cao (chống stress nhiệt buổi trưa).
    • Có biện pháp che chắn, giữ ấm và chống ẩm ướt nền chuồng trong mùa mưa lạnh kéo dài nhằm ngăn ngừa bệnh hô hấp và ký sinh trùng.
  3. Giải pháp dinh dưỡng: Tận dụng hiệu quả thảm cỏ tự nhiên, cỏ trồng thô xanh và các phụ phẩm nông nghiệp địa phương; điều chỉnh thời gian cho ăn tập trung vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát trong mùa nóng để tối ưu hóa lượng thức ăn thu nhận.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Nghiên cứu được thực hiện tập trung tại cơ sở thực nghiệm (Trung tâm nghiên cứu vật nuôi Thủy An) với quy mô đàn vừa phải, chưa khảo sát trên diện rộng ở các mô hình nông hộ thuộc các tiểu vùng khí hậu đồi núi khác nhau của tỉnh Thừa Thiên Huế.
  • Số lượng các chủng loại cây thức ăn thô xanh và phụ phẩm được đánh giá tiêu hóa chuyên sâu còn giới hạn ở một số loại phổ biến.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Triển khai thử nghiệm các mô hình chăn nuôi cừu bán thâm canh hoặc kết hợp dưới tán rừng, vườn cây ăn quả tại các hộ nông dân vùng đồi núi Thừa Thiên Huế.
  • Nghiên cứu sâu hơn về quy trình chế biến, ủ chua dự trữ thức ăn thô xanh và phụ phẩm nông nghiệp để giải quyết tình trạng thiếu hụt thức ăn trong mùa mưa lũ kéo dài.
  • Theo dõi các thế hệ con lai tiếp theo để đánh giá độ ổn định di truyền và sức đề kháng bệnh tật lâu dài của đàn cừu tại địa phương.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Luận án là tài liệu tham khảo trong chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y và Sinh lý học gia súc. Các phương pháp đo lường sinh lý nhiệt, ứng dụng thang chỉ số THI của Marai và kỹ thuật thí nghiệm tiêu hóa in vivo trên gia súc nhai lại nhỏ có thể áp dụng trực tiếp cho các nghiên cứu tương tự.
  • Đối với cán bộ quản lý nông nghiệp và khuyến nông: Cung cấp căn cứ khoa học xác đáng phục vụ công tác quy hoạch, chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, đa dạng hóa sinh kế và phát triển các mô hình giảm nghèo tại các vùng đồi núi miền Trung.
  • Đối với người chăn nuôi: Cung cấp các thông số kỹ thuật thực tiễn về chu kỳ sinh sản, chế độ dinh dưỡng, thời điểm cho ăn và kỹ thuật làm chuồng trại thích ứng với hai mùa nóng – lạnh tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao luận án lại chọn chỉ số nhiệt ẩm (THI) của Marai và cộng sự (2000) để đánh giá stress nhiệt trên cừu?

Marai và cộng sự (2000) đã xây dựng công thức THI và thang đánh giá chuyên biệt dành cho gia súc nhai lại nhỏ (cừu) nuôi tại vùng khí hậu nhiệt đới. Công thức này phản ánh chính xác sự kết hợp giữa nhiệt độ bầu khô và độ ẩm không khí lên khả năng thải nhiệt qua đường hô hấp của cừu, phân định rõ các mức độ: không stress ($THI \le 22,2$), stress nhẹ ($22,2 < THI \le 23,3$), stress nghiêm trọng ($23,3 < THI \le 25,6$) và stress cực kỳ nghiêm trọng ($THI \ge 25,6$).

2. Chỉ tiêu sinh lý nào của cừu Phan Rang phản ứng nhạy cảm nhất khi THI môi trường tăng cao?

Tần số hô hấp là chỉ tiêu nhạy cảm nhất. Do tuyến mồ hôi của cừu kém phát triển và lớp lông dày cản trở thoát nhiệt qua da, khi nhiệt độ môi trường và THI tăng cao vào mùa nóng, cừu phải tăng nhanh tần số hô hấp (có thể đạt trên 90–110 lần/phút) để bốc hơi nước qua đường thở nhằm duy trì cân bằng thân nhiệt.

3. Khả năng sinh trưởng và khối lượng 12 tháng tuổi của cừu Phan Rang nuôi tại Thừa Thiên Huế đạt mức nào?

Khối lượng cừu lúc 12 tháng tuổi nuôi tại Thừa Thiên Huế đạt 26,5–28,5 kg đối với cừu cái và 32,0–35,5 kg đối với cừu đực. Tỷ lệ thịt xẻ đạt 41,5–43,2% và thịt tinh đạt 30,0–31,5%. Các chỉ số này tương đương với kết quả nuôi tại vùng khô hạn Ninh Thuận và cơ sở Ba Vì.

4. Ẩm độ cao và mưa nhiều tại Thừa Thiên Huế có làm thay đổi các chỉ tiêu sinh lý máu của cừu không?

Các chỉ tiêu huyết học như số lượng hồng cầu (RBC), hematocrit (Hem) và bạch cầu (WBC) của cừu Phan Rang nuôi tại Thừa Thiên Huế vẫn duy trì ổn định trong giới hạn sinh lý bình thường của loài. Mặc dù hàm lượng hemoglobin (Hb) có sự biến động nhẹ giữa mùa nóng và mùa lạnh, cừu vẫn duy trì trạng thái sức khỏe tốt và không có biểu hiện bệnh lý huyết học.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Văn Lợi đã hoàn thành việc đánh giá khả năng thích ứng của giống cừu Phan Rang nuôi tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Kết quả nghiên cứu xác định cừu Phan Rang có khả năng thích nghi sinh học tốt với điều kiện khí hậu ẩm ướt, mưa nhiều của địa phương, duy trì ổn định các chỉ tiêu sinh lý, sinh lý máu, khả năng sinh sản và đạt năng suất thịt tương đương vùng nguyên sản. Các phương trình quan hệ giữa nhiệt độ, ẩm độ và chỉ số THI được xác lập trong luận án là cơ sở khoa học quan trọng cho việc thiết kế chuồng trại và điều chỉnh kỹ thuật nuôi dưỡng gia súc nhai lại nhỏ tại khu vực miền Trung. Công trình có giá trị khoa học và thực tiễn cao, mở ra hướng phát triển kinh tế chăn nuôi mới cho vùng đồi núi Thừa Thiên Huế.