Tổng quan nghiên cứu

Cây dừa là cây công nghiệp lâu năm chủ lực của tỉnh Bến Tre với diện tích canh tác đạt 63.000 ha vào năm 2013, chiếm tới 75% tổng diện tích dừa của cả nước. Hàng năm, người nông dân Bến Tre thu hoạch và cung ứng cho thị trường trên 510 triệu trái dừa thô, kết hợp cùng 200 triệu trái từ các tỉnh lân cận để phục vụ cho các nhà máy chế biến, đóng góp gần 200 triệu USD vào tổng kim ngạch xuất khẩu 518 triệu USD của toàn tỉnh. Tuy nhiên, chuỗi giá trị ngành dừa đối mặt với tình trạng đứt gãy liên kết khi người nông dân chủ yếu bán dừa qua hệ thống thương lái trung gian. Việc cạnh tranh thu mua khoảng 200 triệu trái dừa xuất khẩu tiểu ngạch sang thị trường Trung Quốc khiến giá cả biến động thất thường, nông dân chịu thiệt thòi khi rớt giá và nhà máy chế biến thiếu hụt nguyên liệu khi giá tăng cao.

Nhằm khắc phục những bất cập này, việc triển khai mô hình sản xuất theo hợp đồng theo Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ được xem là giải pháp then chốt. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công của tác giả Cao Văn Trọng tập trung phân tích thực trạng sản xuất tiêu thụ, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia sản xuất theo hợp đồng của hộ dân với Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Bến Tre (Betrimex), và đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách. Nghiên cứu được thực hiện tại 2 địa bàn trọng điểm là huyện Giồng Trôm và huyện Mỏ Cày Nam dựa trên số liệu thứ cấp giai đoạn 2010–2013 và dữ liệu khảo sát thực tế năm 2014. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc tạo dựng chuỗi liên kết bền vững cho hơn 19.000 hộ dân trồng dừa trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của hai nền tảng lý luận chính: Lý thuyết Hợp đồng canh tác (Contract Farming - CF) và Lý thuyết Hành vi dự định (Theory of Planned Behavior - TPB). Theo cách tiếp cận của Eaton và Shepherd (2001) cùng Sykuta và Parcell (2003), sản xuất theo hợp đồng là hình thức liên kết dọc giữa doanh nghiệp chế biến và nông dân, phân bổ rõ ràng 3 yếu tố cốt lõi: chia sẻ lợi ích kinh tế, phân định rủi ro thị trường và xác lập quyền quyết định trong quy trình canh tác. Khung lý thuyết này giúp làm rõ các động cơ tham gia của hộ dân như bảo đảm thị trường tiêu thụ, tiếp cận chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ tín dụng đầu vào và ổn định thu nhập dài hạn so với hình thức mua bán giao ngay tự do.

Bên cạnh đó, nghiên cứu ứng dụng Lý thuyết Hành vi dự định của Ajzen (1991, 2007) nhằm lý giải các yếu tố tâm lý xã hội thúc đẩy quyết định của chủ hộ. Bốn khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa và đo lường bao gồm: chuẩn chủ quan (quy tắc xã hội từ cộng đồng và gia đình), nhận thức kiểm soát hành vi (khả năng tiếp cận nguồn lực và điều kiện giao thông), nhận thức về lợi ích kinh tế và nhận thức về rủi ro khi ký hợp đồng. Mô hình nghiên cứu tổng hợp kết nối các biến nhân khẩu học, điều kiện canh tác nông hộ và cấu trúc tâm lý cá nhân để giải thích toàn diện xác suất tham gia liên kết kinh tế.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng dữ liệu sơ cấp thu thập từ 400 hộ nông dân trồng dừa tại 37 xã thuộc hai huyện Giồng Trôm (21 xã) và Mỏ Cày Nam (16 xã). Cỡ mẫu được xác định dựa trên công thức Yamane (1967) từ tổng thể 19.389 hộ dân với mức sai số cho phép 5% ở khoảng tin cậy 95%. Phương pháp chọn mẫu phân tầng tỷ lệ (proportionate stratified sampling) được áp dụng tại các ấp có diện tích dừa tập trung trên 100 ha, chia đều thành 2 nhóm quan sát gồm 198 hộ tham gia hợp đồng và 202 hộ không tham gia hợp đồng. Nghiên cứu cũng kết hợp phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) thông qua 2 cuộc hội thảo lấy ý kiến chính quyền, chuyên gia và hộ dân vào tháng 12 năm 2014.

Về phương pháp phân tích, tác giả lựa chọn mô hình kinh tế lượng hồi quy Logit nhị phân (Binary Logit Model) ước lượng bằng phương pháp hợp lý tối đa (MLE) trên phần mềm SPSS 20. Lý do lựa chọn mô hình Logit là vì biến phụ thuộc nhận giá trị nhị phân (1: tham gia, 0: không tham gia), giúp ước lượng chính xác xác suất lựa chọn hành vi dưới tác động của 21 biến độc lập. Thang đo Likert 5 mức độ và thang đo Stapel được kiểm định độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s Alpha (đều đạt trên 0,71) và phân tích nhân tố khám phá EFA với hệ số KMO đạt 0,76, đảm bảo tính đại diện và giá trị khoa học cao của dữ liệu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích thống kê mô tả và hồi quy từ 400 mẫu khảo sát đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

  • Chênh lệch rõ rệt về thu nhập hộ gia đình: Nhóm hộ tham gia sản xuất theo hợp đồng đạt mức thu nhập bình quân 7,3 triệu đồng/tháng (trong đó thu nhập trực tiếp từ vườn dừa đạt 3,9 triệu đồng/tháng), cao hơn 30,3% so với nhóm hộ không tham gia vốn chỉ đạt 5,6 triệu đồng/tháng (thu nhập từ dừa là 2,8 triệu đồng/tháng), đạt mức ý nghĩa thống kê cao với sig = 0,000.
  • Quy mô diện tích và năng suất canh tác vượt trội: Hộ tham gia liên kết sở hữu quy mô đất trồng dừa bình quân 6,9 công (diện tích cho trái đạt 6,2 công, sản lượng thu hoạch 5,2 nghìn trái/năm), lớn hơn đáng kể so với nhóm không tham gia chỉ đạt 5,8 công (diện tích cho trái 4,7 công, sản lượng 3,6 nghìn trái/năm).
  • Sự phân hóa của các kênh tiêu thụ nông sản: Đại lý của Công ty Betrimex bao tiêu tới 81,4% sản lượng của các hộ ký hợp đồng, chiếm 40,3% tổng lượng dừa tiêu thụ toàn vùng. Ngược lại, thương lái địa phương trong xã và ấp thu mua tới 91,4% sản lượng của các hộ không tham gia liên kết, chiếm 54,1% sản lượng toàn vùng khảo sát.
  • Rào cản về khoảng cách và hạ tầng vận chuyển: Khoảng cách từ vườn dừa đến điểm thu mua của hộ tham gia hợp đồng bình quân là 8,8 km, xa hơn nhiều so với mức 3,3 km của hộ bán tự do tại vườn. Có tới 73,1% số hộ gặp khó khăn về vận chuyển quyết định không tham gia ký hợp đồng.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm phản ánh đúng bản chất của kinh tế hộ nông thôn. Các hộ có diện tích đất lớn và thu nhập cao có xu hướng chủ động tham gia hợp đồng để tìm kiếm sự ổn định về giá và giảm thiểu rủi ro thị trường. Sự tham gia vào các tổ chức đoàn thể địa phương (84,7% hộ tham gia) và khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông (71,3% hộ tiếp cận) đóng vai trò bệ đỡ quan trọng, tạo dựng niềm tin xã hội để nông dân sẵn sàng ký kết văn bản pháp lý với doanh nghiệp.

So sánh với các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, kết quả này hoàn toàn tương đồng với nghiên cứu của Đỗ Quang Giám và Trần Quang Trung (2013) trên cây chè tại Tuyên Quang (43% sản lượng bán qua hợp đồng) và nghiên cứu của Strohm và Hoeffler (2006) tại Kenya, khi khẳng định diện tích canh tác, hạ tầng giao thông và tổ chức nông dân là các biến số quyết định sự thành bại của chuỗi liên kết. Tuy nhiên, yếu tố tuổi đời chủ hộ (bình quân 54 tuổi) và trình độ học vấn (bình quân 6,7 năm học) không tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (sig > 0,05), cho thấy tập quán trồng dừa truyền thống tại Bến Tre có tính phổ quát cao giữa các thế hệ.

Dữ liệu nghiên cứu này có thể được mô hình hóa trực quan thông qua bảng đối chiếu các chỉ số kinh tế kỹ thuật giữa hai nhóm hộ và biểu đồ thanh thể hiện cơ cấu thị phần thu mua dừa trái, giúp các bên liên quan dễ dàng nhận diện điểm nghẽn của chuỗi cung ứng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả định lượng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm thúc đẩy việc liên kết sản xuất theo hợp đồng bền vững:

  • Thiết lập cơ chế định giá sàn linh hoạt và minh bạch hóa điều khoản hợp đồng: Công ty Betrimex phối hợp với Hiệp hội Dừa Bến Tre xây dựng công thức giá sàn bảo hiểm chi phí cho nông dân khi giá thị trường sụt giảm, đồng thời cam kết bao tiêu tối thiểu 85% sản lượng thu hoạch định kỳ. Mục tiêu nâng tỷ lệ hộ nông dân tham gia ký hợp đồng lên 65% trên toàn địa bàn 2 huyện trong giai đoạn 2016–2020.
  • Nâng cấp hạ tầng giao thông nông thôn và phân bổ mạng lưới điểm thu mua vệ tinh: Ủy ban nhân dân các cấp huyện Giồng Trôm và Mỏ Cày Nam ưu tiên nguồn vốn ngân sách hoàn thiện hệ thống đường giao thông nông thôn đạt chuẩn cơ giới hóa, rút ngắn bán kính vận chuyển dừa từ vườn đến đại lý thu mua xuống dưới 4 km trước năm 2018, giải quyết dứt điểm rào cản chi phí vận chuyển cho 73,1% hộ khó khăn.
  • Mở rộng gói tín dụng ưu đãi và cung ứng vật tư nông nghiệp trả chậm: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn liên kết cùng các tổ hợp tác triển khai gói vay trung hạn ưu đãi cho các hộ có hợp đồng liên kết, phấn đấu nâng tỷ lệ hộ tiếp cận vốn tín dụng chính thức từ mức 12,8% hiện nay lên 45% trong vòng 3 năm.
  • Tăng cường đào tạo kỹ thuật thâm canh và kiểm soát sâu bệnh sinh học: Chi cục Bảo vệ thực vật kết hợp với Trung tâm Khuyến nông tỉnh tổ chức các khóa tập huấn chuyển giao kỹ thuật phòng trừ bọ cánh cứng Brontispa longissima, hỗ trợ 100% hộ dân ký hợp đồng chuyển đổi sang quy trình canh tác dừa hữu cơ đạt chuẩn xuất khẩu vào năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và lý luận sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Nghiên cứu cung cấp bức tranh thực chứng về việc thực thi Quyết định 62/2013/QĐ-TTg và Nghị quyết 10/2012/NQ-HĐND của tỉnh Bến Tre, hỗ trợ hoạch định các chính sách tái cơ cấu nông nghiệp và phát triển kinh tế tập thể tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu dừa: Lãnh đạo các doanh nghiệp như Betrimex có thể sử dụng dữ liệu để hoàn thiện chính sách thu mua, thiết kế hợp đồng mẫu phù hợp tâm lý nông dân và tối ưu hóa hệ thống logistic vùng nguyên liệu 63.000 ha.
  • Ban chủ nhiệm Hợp tác xã, Tổ hợp tác và chủ vườn dừa: Tài liệu giúp nâng cao nhận thức về quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý, trang bị kỹ năng đàm phán hợp đồng tập thể và nắm bắt phương pháp liên kết giảm thiểu rủi ro biến động giá.
  • Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu kinh tế nông nghiệp: Cung cấp khung phương pháp luận kết hợp mô hình TPB và kinh tế lượng Logit trên phần mềm SPSS 20, làm tài liệu tham khảo chuẩn mực cho các đề tài nghiên cứu về chuỗi giá trị nông sản và kinh tế hộ.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao việc sản xuất dừa theo hợp đồng lại mang tính cấp thiết tại Bến Tre?
Bến Tre có 63.000 ha dừa với sản lượng trên 510 triệu trái mỗi năm nhưng thường xuyên bị cạnh tranh bởi 200 triệu trái xuất khẩu thô sang thị trường nước ngoài. Hợp đồng sản xuất giúp doanh nghiệp chế biến ổn định 80% nguồn nguyên liệu đầu vào và bảo vệ nông dân không bị ép giá trong các đợt thị trường biến động mạnh.

Những yếu tố kinh tế nào quyết định khả năng tham gia hợp đồng của nông dân?
Kết quả kiểm định One-Way ANOVA khẳng định tổng thu nhập (7,3 triệu so với 5,6 triệu đồng/tháng) và diện tích đất cho trái (6,2 công so với 4,7 công) là hai yếu tố có tác động tích cực nhất với mức ý nghĩa sig = 0,000. Hộ có quy mô sản xuất lớn luôn ưu tiên tham gia hợp đồng để bảo toàn lợi nhuận.

Hạ tầng giao thông và khoảng cách ảnh hưởng như thế nào đến quyết định ký hợp đồng?
Nghiên cứu chỉ ra cự ly vận chuyển trung bình của hộ có hợp đồng là 8,8 km so với 3,3 km của hộ bán tự do. Trong số các hộ gặp khó khăn về đường sá, có tới 73,1% hộ chọn bán dừa cho thương lái tại vườn, chứng minh hạ tầng giao thông là điều kiện tiên quyết để mở rộng mô hình.

Vai trò của tổ chức hội đoàn thể và chính quyền địa phương được thể hiện ra sao?
Khảo sát 400 hộ cho thấy 84,7% hộ có thành viên tham gia các tổ chức hội đoàn thể và 81% hộ đánh giá cao sự hỗ trợ của chính quyền. Sự đồng hành của Hội Nông dân và chính quyền cơ sở giúp tỷ lệ tham gia hợp đồng của nhóm hộ này đạt tới 59,9%, cao vượt trội so với nhóm không có sự hỗ trợ.

Phương pháp phân tích kinh tế lượng trong luận văn có điểm gì nổi bật?
Tác giả áp dụng mô hình hồi quy Logit nhị phân kết hợp phân tích nhân tố khám phá EFA và đo lường tâm lý học theo thang đo TPB. Mẫu nghiên cứu 400 hộ được xử lý trên phần mềm SPSS 20 đạt hệ số KMO 0,76 và Cronbach’s Alpha 0,71, đảm bảo độ tin cậy khoa học tối ưu.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng chuỗi cung ứng dừa Bến Tre với quy mô 63.000 ha và 510 triệu trái thu hoạch mỗi năm.
  • Xác định rõ các yếu tố thúc đẩy tham gia hợp đồng gồm: diện tích canh tác (6,9 công), thu nhập nông hộ (7,3 triệu đồng/tháng) và sự gắn kết với hội đoàn thể (84,7%).
  • Làm rõ rào cản hạ tầng khi khoảng cách vận chuyển 8,8 km khiến 73,1% hộ khó khăn giao thông từ chối tham gia chuỗi liên kết.
  • Kiến nghị hoàn thiện cơ chế giá sàn bảo hiểm, mở rộng tỷ lệ vay vốn tín dụng từ 12,8% lên 45% và rút ngắn bán kính trạm thu mua xuống dưới 4 km.
  • Đặt nền móng khoa học cho việc nhân rộng mô hình liên kết 4 nhà, thúc đẩy ngành dừa phát triển bền vững theo hướng hữu cơ giá trị cao.

Đóng góp lớn nhất của công trình là việc tích hợp thành công lý thuyết hành vi dự định TPB vào mô hình kinh tế lượng Logit thực nghiệm chính sách công. Đề tài mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về liên kết chuỗi giá trị dừa hữu cơ xuất khẩu sang các thị trường tiêu chuẩn cao trong giai đoạn 3–5 năm tới. Các nhà nghiên cứu, nhà quản trị doanh nghiệp và cán bộ chính sách có thể khai thác các số liệu và giải pháp của luận văn này để ứng dụng trực tiếp vào thực tiễn quản lý nông nghiệp hiện đại.