Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về lĩnh vực bảo tồn và phát triển các giống vật nuôi địa phương Việt Nam là nước thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, có dải đất hẹp trải dài theo chiều Bắc - Nam và chịu nhiều tổn thất nặng nề trong các cuộc chiến tranh xâm lược. Nhưng chúng ta lại có một kho tàng đa dạng sinh học phong phú, mặc dù một số loại động thực vật đã bị tuyệt chủng hay một số khác đang có nguy cơ tuyệt chủng bởi một số nguyên nhân như: áp lực của cơ chế thị trường chạy theo năng suất cao, chạy theo thị trường mà đã bỏ quên giống địa phương năng suất thấp nhưng có chất lượng thịt cao; tác động của kỹ thuật mới về truyền giống nhân tạo đã tạo ra nhiều giống lai có năng suất cao, làm cho giống nội thuần có năng suất thấp dần biến mất. Sự tuyệt chủng của một số loại động vật, vật nuôi địa phương có năng suất thấp nhưng mang những đặc điểm quý giá như: thịt thơm ngon, chịu đựng kham khổ tốt, dinh dưỡng thấp, thích nghi cao với điều kiện sinh thái khắc nghiệt là một điều đáng tiếc.
Nhận thấy hiểm họa đang đến đối với các giống vật nuôi nội địa, cho nên từ những năm 1989 đến nay Bộ Khoa học và Công nghệ đã cho thực hiện đề án Bảo tồn nguồn gen vật nuôi một trong nhiều đề án bảo tồn nguồn gen động, thực vật khác. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trong chương trình giống đã đưa phần bảo tồn, phát triển nguồn gen như một bộ phận quan trọng nhằm thúc đẩy sản xuất. Năm 1990 triển khai đề án bảo tồn, phát triển quỹ gen đến nay chúng ta đã nhận biết được 51 giống, trong đó 8 giống đã mất trước năm 1990. Trong 43 giống còn lại có 18 giống được sử dụng rộng rãi và 25 giống được sử dụng hẹp, 8 giống trong số 25 giống đã được tổ chức khai thác chiếm 30%.
Trong 51 giống có 13 giống lợn, 5 giống đã mất, 5 giống đã được phát triển nhiều, 1 giống phát triển xuất sắc và 2 giống phát triển ít (Lê Viết Ly và Hoàng Văn Tiệu, 2004. Hội nghị bảo tồn Quỹ gen, 10/2004)[30]. Các yếu tố ảnh hưởng đến ngoại hình * Ảnh hưởng yếu tố di truyền + Ảnh hưởng của giống: Các giống lợn khác nhau có đặc điểm ngoại hình khác nhau. Đặc điểm ngoại hình là tiêu chí quan trọng để đánh giá và phân biệt các giống lợn về kiểu hình.
Theo định nghĩa về giống của FAO: “Một giống hoặc một nhóm giống trong loài có đặc điểm bên ngoài có thể ghi nhận và phân biệt mà nó có thể cho phép tách biệt bởi hình thức bên ngoài với các nhóm khác thì được gọi là một giống”. Giống là tập hợp các vật nuôi có quần thể đủ lớn trong cùng một loài, có một nguồn gốc chung, có một số đặc điểm chung, được hình thành do quá trình chọn lọc tự nhiên hoặc tác động của con người. Các vật nuôi trong cùng một giống có các đặc điểm về ngoại hình, sinh lý, năng suất sinh vật học và khả năng chống chịu bệnh giống nhau, các đặc điểm này di truyền được cho đời sau. + Ảnh hưởng của cá thể: Trong cùng một giống, có những cá thể do lấn át gen hay bị phân ly do tác động của môi trường làm cho các gen quy định một tính trạng ngoại hình nào đó thể hiện ra bên ngoài.
Điều này thường thấy ở các giống lợn bản địa khi đặc điểm ngoại hình của giống là màu đen toàn thân, nhưng có khi trong đàn xuất hiện một vài cá thể có loang trắng ở chân, bụng, mõm, v. * Ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh Điều kiện sống cũng làm ảnh hưởng đến đặc điểm ngoại hình của lợn do đấu tranh, tồn tại và thích nghi. Ví dụ, lợn rừng có thân hình thanh chắc, chân khỏe, mõm dài và thường có răng nanh dài, các yếu tố này sẽ giúp lợn rừng có thể di chuyển linh hoạt, tìm kiếm, đào bới và săn mồi để tồn tại trong môi trường tự nhiên. Ngoài ra, nhiệt độ và cường độ chiếu sáng của môi trường sống cũng làm thay đổi màu sắc lông da của lợn.
Khả năng sinh sản và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái Sinh sản là một quá trình sinh học hết sức phức tạp của cơ thể động vật đồng thời là chức năng duy trì giống nòi và tái sản xuất của vật nuôi. Sinh sản hữu tính là hình thức sinh sản cao nhất và phổ biến nhất ở cơ thể động vật, đó là quá trình có sự tham gia của hai cơ thể đực và cái, là một quá trình mà ở đó con đực sản sinh ra tinh trùng, con cái sản sinh ra trứng, thụ tinh giữa tinh trùng và trứng hình thành hợp tử, hợp tử phát triển trong tử cung của con cái và sinh ra đời con. Quá trình sinh sản đối với con cái xảy ra bắt đầu bằng sự xuất hiện chu kỳ tính và được điều khiển bởi một hệ thống thần kinh, thể dịch hết sức phức tạp. Sự điều khiển được mô phỏng theo sơ đồ dưới đây: Vỏ Hypothalamus GRH + + - Thuú tr−íc tuyÕn yªn PL LH FSH Buång trøng Estrogen ThÓ vµng Trøng rông Progesteron TuyÕn s÷a Sõng tö Protagladine Sơ đồ 1.
Điều khiển hormone chu kỳ tính ở lợn cái 6 GRH: Gonadotropin releaser hormone LH: Lutein hormone FSH: Foliculin stimulin hormone PL: Prolactin Tất cả các kích thích bên ngoài và trong cơ thể như khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng, chế độ nuôi dưỡng, quản lý, tác động xoa bóp, mùi vị con đực, tình trạng cơ quan sinh dục và các bộ phận khác của cơ thể đều ảnh hưởng trực tiếp đến chu kỳ tính một cách phản xạ theo phương thức thần kinh, thể dịch. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái Chỉ tiêu tổng quát để đánh giá năng suất sinh sản của bản thân lợn nái là số con cai sữa/nái/năm. Chỉ tiêu về số con cai sữa/nái/năm còn phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố. Các nhân tố cấu thành khả năng sản xuất của lợn nái được minh hoạ như sơ đồ 1.2 Số lợn con cai sữa/nái/năm Số lợn con cai sữa/lứa Số lứa/nái/năm Hao hụt Số lơn lợn Thời gian Thời gian Thời chăn nuôi con đẻ ra sống phối sau cai mang thai gian bú sữa sữa Tỷ lệ Tỷ lệ Hợp Khoảng Tỷ lệ thụ Không rụng trứng tử chết cách giữa cai thai, không có khả trứng thụ tinh sữa và động thụ thai năng sinh dục sản Sơ đồ 1.
Các nhân tố xác định thành tích sinh sản 7 1. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái Việc xác định và cải thiện các nhân tố ảnh hưởng đến thành tích sinh sản góp phần phát huy tiềm năng vốn có của mỗi giống vật nuôi, nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi. Trong quá trình nghiên cứu các nhà khoa học đã nhận thấy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp tới thành tích sinh sản của bản thân lợn nái nhưng được chia làm 2 loại chính là yếu tố di truyền và yếu tố ngoại cảnh. * Ảnh hưởng của yếu tố di truyền Trong chăn nuôi, giống là tiền đề và là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái (Đặng Vũ Bình, 1999)[3].
Các giống khác nhau biểu hiện thành tích sinh sản khác nhau vì kiểu gen của chúng khác nhau, mỗi giống gia súc đều có cả gen trội và gen lặn đối với chỉ tiêu mong muốn và không mong muốn. Trong chọn lọc cần chọn đàn giống có tỷ lệ kiểu gen trội đối với chỉ tiêu mong muốn cao nhất và hạn chế đến mức tối thiểu sự thể hiện gen lặn của tính trạng không mong muốn. Chọn lọc là phương pháp đơn giản và được sử dụng sớm nhất để nâng cao chất lượng đàn giống vật nuôi. Chọn lọc cũng là động lực đầu tiên để đạt tới sự tiến bộ di truyền, chọn lọc có thể tăng số lượng gen tốt và giảm số lượng gen xấu thông qua quan sát kiểu hình.
+ Yếu tố giống: Sự khác nhau giữa các giống lợn về các tính trạng năng suất sinh sản đã được nhiều tác giả công bố. Với mục đích đa dụng, các giống như Large White (Yorkshire), Landrace, một vài dòng nguyên chủng được xếp vào loại có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khá. Các giống chuyên dụng “dòng bố” như Pietrain, Duroc, Landrace Bỉ, Hampshire và Poland - China có năng suất sinh sản trung bình nhưng năng suất thịt cao. Các giống chuyên dụng “dòng mẹ”, đặc biệt một số giống nguyên sản của Trung Quốc như Taihu (điển hình là Meishan) có năng suất sinh sản đặc biệt cao nhưng năng suất thịt kém.
Cuối cùng là nhóm 8 giống “nguyên sản” hay các giống “bản địa” có năng suất sinh sản cũng như năng suất thịt thấp nhưng nó có khả năng thích nghi tốt với môi trường riêng của chúng. Các giống bản địa thường có khả năng sinh sản kém hơn các giống, dòng chuyên hóa do chúng chưa được chọn lọc và quản lý tốt và thường bị cận huyết cao, nhưng các giống lợn này lại có khả năng thích nghi tốt với điều kiện môi trường sống không thuận lợi. Các giống khác nhau thì sự thành thục về tính cũng khác nhau. Sự thành thục về tính ở các giống lợn bản địa có thể vóc, trọng lượng nhỏ thường sớm hơn các giống lợn ngoại có thể vóc to hơn.
Sự thành thục về tính ở lợn cái được định nghĩa là thời điểm rụng trứng lần đầu tiên, và xảy ra lúc 3-5 tháng tuổi chủ yếu là các giống lợn bản địa như: lợn Táp Ná là 113,20 ngày (Nguyễn Văn Đức, 2013)[15], lợn Hạ Lang là 124,14 ngày (Phạm Đức Hồng và Phạm Hải Ninh, 2013)[24], lợn Vân Pa ở Quảng trị là 241,67 ngày (Đặng Hoàng Biên, 2009) [1]. + Hệ số di truyền Hệ số di truyền cũng là yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái. Đa số các tính trạng về năng suất sinh sản của lợn nái đều có hệ số di truyền thấp. Hệ số di truyền của các chỉ tiêu sinh sản là thấp, vì vậy vấn đề đặt ra đối với các nhà chọn giống, là để nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái, chỉ bằng cách tăng cường qua trình chọn lọc, đáp ứng tối đa yêu cầu về môi trường để nâng cao hiệu quả sản xuất.
- Ảnh hưởng của cá thể đực: Cá thể đực giống có ảnh hưởng lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái. Trong phối giống trực tiếp, ảnh hưởng của cá thể đực giống đối với tỷ lệ thụ thai là rất rõ rệt.