Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học về các vấn đề nghiên cứu 1. Sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng 1. Sinh trưởng Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất do đồng hóa và dị hóa, và là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, chiều ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở đặc tính di truyền từ thế hệ trước.
Thực chất của sinh trưởng chính là sự tăng trưởng và phân chia của các tế bào trong cơ thể. Phát dục là quá trình thay đổi về chất lượng tức là sự thay đổi tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các cơ quan, bộ phận trong cơ thể, nhờ vậy, vật nuôi hoàn thiện được các chức năng của cơ thể sống (Dương Mạnh Hùng và cs. Sinh trưởng và phát dục là 2 quá trình khác nhau, nhưng thống nhất, không tách rời nhau, bồi bổ cho nhau, ảnh hưởng lẫn nhau làm cho cơ thể phát triển ngày càng hoàn chỉnh. Đây là 2 quá trình liên tục, nhưng có lúc sinh trưởng mạnh phát dục yếu và ngược lại.
Hai quá trình này diễn ra song song hỗ trợ lẫn nhau, nghĩa là có sinh trưởng mới có phát dục và ngược lại phát dục sẽ thúc đẩy sinh trưởng. Nói một cách khác sự liên quan giữa 2 quá trình này là sự liên quan giữa số lượng và chất lượng (Dương Mạnh Hùng và cs. Liên quan đến sinh trưởng là nói đến một số tính trạng số lượng, những tính trạng này chịu ảnh hưởng lớn của các yếu tố di truyền và yếu tố môi trường bên ngoài. Do có sự tương tác giữa kiểu gen và ngoại cảnh mà sinh trưởng mang tính quy luật, để từ đó đảm bảo cho cơ thể phát triển đạt tỷ lệ hài hoà và cân đối.
Sinh trưởng và phát dục của bê thường tuân theo quy luật sinh trưởng phát dục không đồng đều theo giai đoạn, tuổi và theo giới tính. 5 Sinh trưởng và phát dục không tách rời nhau mà ảnh hưởng lẫn nhau làm cho cơ thể con vật hoàn chỉnh, sinh trưởng có thể phát sinh từ phát dục và ngược lại sinh trưởng tạo điều kiện cho phát dục tiếp tục hoàn chỉnh. - Các qui luật sinh trưởng - phát dục Quá trình sinh trưởng - phát dục tuân theo 3 qui luật sau: + Qui luật phát triển theo giai đoạn: * Giai đoạn trong bào thai: Từ khi hình thành hợp tử đến khi đẻ. Bào thai được nuôi dưỡng bằng các chất dinh dưỡng qua máu mẹ và không chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện ngoại cảnh.
Giai đoạn này bao gồm 3 thời kỳ: thời kỳ phôi, thời kỳ tiền thai và thời kỳ bào thai. * Giai đoạn ngoài bào thai : Cơ thể chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện ngoại cảnh. Dinh dưỡng được cung cấp thông qua hoạt động của bộ máy tiêu hóa. Giai đoạn này chia làm 4 thời kỳ: Thời kỳ bú sữa, thời kỳ thành thục, thời kỳ trưởng thành và thời kỳ già cỗi.
+ Qui luật phát triển không đồng đều: Sinh trưởng, phát dục của bê tuân theo quy luật sinh trưởng, phát dục không đồng đều theo giai đoạn, tuổi, giới tính. Nó biểu hiện ở sự thay đổi rõ rệt về tốc độ sinh trưởng ở từng lứa tuổi. Các bộ phận trong cơ thể cũng phát triển không đồng đều ở các thời kỳ. Sự tích luỹ các loại tổ chức trong cơ thể như: cơ, mỡ.
cũng khác nhau trong từng thời kỳ. Tương tự, các hoạt động chức năng của từng cơ quan và toàn bộ cơ thể không đồng đều ở các thời kỳ. + Quy luật phát triển theo nhịp điệu (chu kỳ): Tính chu kỳ thể hiện trong hoạt động sinh lý của cơ thể, của hệ thần kinh (khi hưng phấn, khi ức chế) có liên quan tới quá trình trao đổi chất (đồng hóa và dị hóa). Do vậy sự phát triển của cơ thể có tính chu kỳ.
Tính chu kỳ thể hiện rõ nhất ở hoạt động sinh dục của các cá thể cái. - Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng 6 Để đánh giá khả năng sinh trưởng, người ta sử dụng 3 chỉ tiêu cơ bản sau: + Sinh trưởng tích luỹ: Là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn cơ thể hay của từng bộ phận cơ thể tại các thời điểm sinh trưởng, nghĩa là các thời điểm thực hiện phép đo (Dương Mạnh Hùng và cs. Sinh trưởng tích lũy của đàn bò sữa được lấy theo 30% tổng số đàn trong cùng giai đoạn. Tuy nhiên, ở giai đoạn 13 tháng bò sẽ được cân 100% để đảm bảo đủ điều kiện phối giống.
Đồ thị sinh trưởng tích lũy có hình dạng chữ S, lúc đầu tăng chậm sau đó tăng nhanh và cuối cùng nằm ngang + Sinh trưởng tuyệt đối: Là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn cơ thể hay tùy từng bộ phận trong cơ thể tăng lên trong một đơn vị thời gian (Dương Mạnh Hùng và cs. Sinh trưởng tuyệt đối được biểu thị bằng tăng khối lượng gam/con/ngày ở các giai đoạn sinh trưởng. + Sinh trưởng tương đối: Là khối lượng, kích thước, thể tích của cơ thể hay từng bộ phận cơ thể tại thời điểm sinh trưởng sau tăng lên so với thời điểm sinh trưởng trước (Dương Mạnh Hùng và cs. Sinh trưởng tương đối thường được biểu thị bằng đơn vị phần trăm.
Đồ thị biểu diễn sự biến động về sinh trưởng tương đối là có dạng đường cong giảm dần theo sự tăng lên của tuổi 1. Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng và các biện pháp thúc đẩy sinh trưởng - phát dục * Yếu tố di truyền Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như là quá trình tích lũy các chất mà quan trọng là protein. Tốc độ và cách thức sinh tổng hợp protein chính là tốc độ và phương thức hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể (Wiliamson và Payner,1978). Người ta lấy chỉ tiêu tăng trưởng làm chỉ tiêu sinh trưởng.
Sự tăng trưởng bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến khi cơ thể trưởng thành. 7 Sự sinh trưởng chia ra làm 2 giai đoạn, là giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai. Theo Dương Mạnh Hùng và cs. (2017) thì giai đoạn bào thai chịu ảnh hưởng nhiều của mẹ, giai đoạn ngoài bào thai sự tăng trưởng mang tính di truyền của đời trước nhiều hơn.
Nuôi dưỡng tốt bò, bê sẽ tăng trưởng cao, sinh sản sớm, cho nhiều sữa ở giai đoạn tiết sữa và nhiều thịt ở giai đoạn nuôi thịt và vỗ béo. Trong thời kỳ bú sữa, khả năng sinh tồn của gia súc (điều hoà thân nhiệt, sự tiêu hóa.) chưa phát triển đầy đủ. Theo Phan Cự Nhân (1972) có sự tương quan di truyền cao giữa khối lượng mới sinh, khối lượng khi cai sữa và khối lượng trưởng thành. Sinh trưởng của động vật là tính trạng số lượng nên chịu ảnh hưởng lớn của các yếu tố di truyền và môi trường bên ngoài.
Do có sự tương tác giữa kiểu gen và ngoại cảnh mà sinh trưởng mang tính quy luật, đảm bảo cho cơ thể phát triển đạt tỷ lệ hài hoà và cân đối. Các giống khác nhau thì khả năng sinh trưởng cũng khác nhau. Ở những giống bò thịt như Hereford, Santa Gertrudis. có tốc độ sinh trưởng nhanh, đạt 1.200 g/ngày, các giống kiêm dụng như Red Sindhi, Brown Swiss khả năng tăng trưởng chỉ đạt 600 - 800 g/ngày.
Ở Pakistan, Chaudhary và McDowell (1987) cho biết: Khối lượng cơ thể thấp nhất ở bò sữa lai F2 3/4 Jersey là 296,20 ± 31, 58 kg và cao nhất ở đàn bò lai F1 1/2 HF là 374,66 ± 67,54 kg. * Những yếu tố ngoại cảnh Dinh dưỡng Dinh dưỡng là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng - phát dục. Dinh dưỡng đầy đủ, cân bằng sẽ thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát dục, ngược lại dinh dưỡng kém, đặc biệt là thiếu protein, khoáng, vitamin sẽ kìm hãm sinh trưởng và phát dục. Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất trong số các yếu tố ngoại cảnh chi phối sinh trưởng của bò sữa.
Khi bò được cung cấp đầy đủ, cân đối về các chất 8 dinh dưỡng sẽ tăng trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn/1 kg tăng trưởng giảm, và hệ quả là ảnh hưởng tốt đến năng suất sữa sau này. Bò sữa có khối lượng lớn, cho sữa nhiều thì nhu cầu dinh dưỡng nhiều hơn so với bò có khối lượng nhỏ, cho sữa ít hoặc không cho sữa. Vì vậy, khẩu phần thức ăn hợp lý và khoa học sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao. Thức ăn có tác dụng rất lớn đối với sự phát triển của gia súc.
Cho gia súc ăn theo khẩu phần, theo giai đoạn, chế độ vận động thích hợp, chuồng trại sạch đều thúc đẩy quá trình sinh trưởng, phát dục của gia súc (Nguyễn Hải Quân và cs. Công trình nghiên cứu của Hoàng Thị Thiên Hương (2007), có nhận xét chế độ dinh dưỡng đã ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của bò sữa. Năng lượng và protein là yếu tố quan trọng giúp cho việc điều khiển tốc độ tăng trưởng, tiêu tốn thức ăn. Các thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của năng lượng, protein trong khẩu phần bò sữa của Schingoethe (1996), Vande Haar và cs.
(1999), Radcliff và cs. đã chứng minh điều đó. Ngoài ra, các chất dinh dưỡng khác trong khẩu phần như khoáng chất, vitamin. đều ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của bò sữa.
Liên quan đến việc đáp ứng các chất dinh dưỡng này, vấn đề phối hợp khẩu phần, thức ăn thô xanh có ý nghĩa quan trọng. Điều kiện chăm sóc, quản lý Điều kiện chăm sóc, quản lý cũng gây ảnh hưởng đáng kể sinh trưởng - phát dục. Chuồng trại xây dựng đúng kỹ thuật, đảm bảo vệ sinh; chế độ vận động hợp lý; tắm chải thường xuyên. có tác dụng tốt đến quá trình sinh trưởng.
Chăm sóc, quản lý tốt gia súc trong giai đoạn còn non sẽ có ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng và khả năng sản xuất sau này. 9 Khí hậu thời tiết Nhiệt độ, độ ẩm, thành phần không khí gây ảnh hưởng tới quá trình trao đổi chất và từ đó ảnh hưởng tới sinh trưởng. Các yếu tố về điều kiện tiểu khí hậu thích hợp sẽ thúc đẩy sinh trưởng và ngược lại. Các yếu tố stress chủ yếu ảnh hưởng xấu tới quá trình trao đổi chất và sức sản xuất gồm: thay đổi nhiệt độ chuồng nuôi, tiểu khí hậu xấu, khẩu phần không hợp lý, chăm sóc nuôi dưỡng kém, tiêm phòng.
Khí hậu có ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của gia súc đặc biệt là ở giai đoạn còn non. Đinh Văn Cải và Nguyễn Ngọc Tấn (2009) cho biết: Nhiệt độ môi trường ở các tỉnh nước ta trung bình là 25 - 33oC, ẩm độ môi trường trên 80%.