phần mở đầu và phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn gồm có 4 chƣơng: CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHƢƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CHƢƠNG 3 : XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN ĐỂ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THPT CHƢƠNG HÀM SỐ LƢỢNG GIÁC VÀ PHƢƠNG TRÌNH LƢỢNG GIÁC, ĐẠI SỐ VÀ GIẢI TÍCH 11, BAN CƠ BẢN CHƢƠNG 4: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan nghiên cứu Trên thế giới, TNKQ đã đƣợc hình thành từ thế kỷ XVII và phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XX ở các nƣớc châu Âu và đặc biệt là Mỹ. Ở châu Á, các nƣớc Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan,… cũng đã sử dụng TNKQ trong KT – ĐG. Ở Việt Nam, trƣớc khi đất nƣớc thống nhất, TNKQ đã đƣợc tiếp thu và triển khai khá rộng rãi ở miền Nam.
Tuy nhiên, sau khi thống nhất đất nƣớc TNKQ không còn đƣợc quan tâm. Đến những năm 90 của thế kỷ XX, TNKQ đƣợc chú ý trở lại và đã có nhiều công trình nghiên cứu về TNKQ và sử dụng TNKQ trong KT – ĐG. Ngày 27/12/2006, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố áp dụng hình thức thi TNKQ trong kì thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng năm 2007 đổi với các môn thi Vật lý, Hoá học, Sinh học bên cạnh môn ngoại ngữ đã áp dụng từ năm 2006. Đến trƣớc kì thi năm 2017, hình thức thi này vẫn duy trì cho 4 môn trên.
Kể từ kì thi THPT quốc gia năm 2017, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã sử dụng hình thức thi TNKQ đối với môn Toán, Khoa học Tự nhiên, Khoa học Xã hội và Ngoại ngữ. Việc sử dụng phƣơng pháp TNKQ đã và đang đƣợc những ngƣời làm công tác giáo dục nghiên cứu và ứng dụng. Đã có nhiều nghiên cứu về ứng dụng TNKQ trong ĐG kết quả học tập nói chung và đối với môn Toán nói riêng: “TN thành tích học tập cho sinh viên” và “TN và đo lƣờng thành quả học tập ” của tác giả Dƣơng Thiệu Tống, đã trình bày nguyên lí căn bản về đo lƣờng và các phƣơng pháp thực hành. Ngoài ra tác giả còn giới thiệu một số bài TN ở trong và ngoài nƣớc nhằm giúp độc giả làm quen với một số dạng câu hỏi TN.
“Xây dựng và sử dụng câu hỏi TNKQ trong dạy học chủ đề toạ độ không gian”. Trong đề tài này tác giả Phùng Thị Huyền (2014) đã xây dựng đƣợc 79 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com câu hỏi TNKQ dạng nhiều lựa chọn để ĐG kết quả học tập chủ đề toạ độ không gian. Trong luận văn của tác giả Đoàn Bá Thành (2013) “Tổ chức KT, ĐG kết quả học tập chủ đề Tổ hợp – Xác suất của HS Trung học phổ thông theo chuẩn kiến thức, kỹ năng” đã xây dựng đƣợc bộ câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn và câu hỏi tự luận theo chuẩn kiến thức, kỹ năng nhằm cải tiến nội dung và công cụ KT - ĐG kết quả học tập chủ đề Tổ hợp – Xác suất của HS, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán ở trƣờng THPT. “Xây dựng câu hỏi TNKQ chủ đề hàm số, phƣơng trình bậc hai một ẩn trong chƣơng trình đại số lớp 9 cho HS THCS”.
Đề tài của tác giả Lê Xuân Hải (2003) đã xây dựng bộ câu hỏi để KT - ĐG chƣơng hàm số và phƣơng trình bậc hai một ẩn của lớp 9. Tác giả Lê Thị Hà (2006) trong luận văn “KT và ĐG kết quả học tập môn Toán của HS THPT bằng phƣơng pháp TNKQ (Thể hiện qua Chƣơng: Phƣơng trình và hệ phƣơng trình lƣợng giác)” đã xây dựng đƣợc bộ câu hỏi TNKQ gồm 96 câu TN và một đề KT gồm 30 câu TN để KT – ĐG kết quả học tập của HS về nội dung Phƣơng trình và hệ phƣơng trình lƣợng giác. Đề tài này đề cập đến phần hệ phƣơng trình lƣợng giác đã đƣợc giảm tải trong chƣơng trình học đối với ban cơ bản. Nhƣ vậy đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu đến việc xây dựng hệ thống các câu hỏi TNKQ nhằm ĐGkết quả học tập môn Toán của HS.
Cũng đã có những đề tài đã đề cập đến nội dung Hàm số lƣợng giác và Phƣơng trình lƣợng giác nhƣng mới chỉ hƣớng đến đối tƣợng ban nâng cao. Nội dung Hàm số lƣợng giác và phƣơng trình lƣợng giác là nội dung quan trọng trong chƣơng trình THPT, do đó tôi quyết định chọn nội dung Hàm số lƣợng giác và Phƣơng trình lƣợng giác làm nội dung nghiên cứu cho đề tài luận văn của mình, và đối tƣợng tôi muốn hƣớng tới là HS ban cơ bản. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Một số khái niệm vềđánh giá kết quả học tập của học sinh 1.
Khái niệm về đánh giá Từ góc độ hệ thống giáo dục thì nhiều tác giả nhƣ: Tylor, Alkin, Stake,. đã đƣa ra khái niệm: “ĐG trong bối cảnh giáo dục có thể định nghĩa nhƣ một quá trình đƣợc tiến hành nhƣ một hệ thống để xác định mức độ đạt đƣợc của HS về mục tiêu đào tạo. Nó có thể bao gồm những sự miêu tả về mặt định tính hay định lƣợng những hành vi này đối chiếu với sự mong muốn đạt đƣợc về hành vi đó” [6, tr. Nhìn từ góc độ lý luận dạy học, ĐG trong nhà trƣờng đƣợc F.
Vaillet (1981) định nghĩa nhƣ sau: “ĐG là biểu thị một thái độ. Đòi hỏi một sự phù hợp theo một chuẩn mực nhất định. Nhờ đó mà ngƣời ĐG(thầy giáo, cô giáo, nhà sƣ phạm) cho một thông tin tổng hợp đôi khi là một con số đối với ngƣời đƣợc ĐG (HS).”Với quan niệm này của mình thì F. Vaillet muốn nhấn mạnh đến thái độ của ngƣời ĐG.
Thái độ đó phải phù hợp với một chuẩn mực nhất định, thái độ của ngƣời ĐG cần phải khách quan, song cũng cần linh hoạt, phụ thuộc vào nội dung thực tế nhận thức của HS thể hiện qua bài làm của mình [6, tr. Theo tác giả Nguyễn Bá Kim: “ĐG là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải tiến thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc” [11, tr. Khái niệm đó có thể áp dụng trong giáo dục dƣới nhiều góc độ khác nhau. ĐG hệ thống giáo dục của một quốc gia, một đơn vị giáo dục hay ĐGGV, ĐGHS.
Nhƣ vậy có nhiều quan điểm khác nhau về ĐG tuy nhiên để có cái nhìn gần nhất với ĐG trong Toán học, trong nội dung luận văn này chúng tôi sẽ sử dụng khái niệmvề ĐG của tác giả Nguyễn Bá Kim, hơn nữa khái niệm này cũng có những đặc trƣng của đo lƣờng ĐG. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Mục đích của đánh giá Trong giáo dục, ĐG nhằm các mục đích sau: Đối với HS: - Về mặt tri thức và kỹ năng, việc ĐG kết quả học tập cho họ những thông tin phản hồi về quá trình học tập của bản thân, từ đó giúp HS điều chỉnh phƣơng pháp học tập hợp lí. - Về mặt giáo dục: Nếu việc ĐG đƣợc tổ chức với mục đích cụ thể, những thông tin phản hồi sau ĐG là những gì mà HS cần thiết, công việc ĐG đƣợc thực hiện một cách nghiêm túc thì sẽ giúp HS nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, có ý chí vƣơn lên đạt những kết quả học tập cao hơn, củng cố lòng tin vào khả năng của bản thân, nâng cao ý thức tự giác, khắc phục tính chủ quan, tự mãn và đặc biệt là phát triển năng lực tự ĐG, một năng lực cần thiết đối với quá trình học tập của HS, không chỉ là còn ngồi trên ghế nhà trƣờng mà còn cần thiết cho việc học tập suốt đời của một con ngƣời.
Đối với GV: Việc ĐG cung cấp cho GV những thông tin sau: - Trình độ và kết quả của lớp và của từng HS. - Những sai lầm điển hình của HS và nguyên nhân của những sai lầm đó. - Những điểm mạnh cũng nhƣ những hạn chế của bản thân GV trong quá trình giảng dạy. Đối với cấp quản lí: Việc ĐG kết quả học tập của HS sẽ cung cấp những thông tin về thực trạng dạy và học trong cơ sở đào tạo, trƣờng học giúp các nhà quản lí nắm bắt đƣợc những ƣu điểm để tiếp tục phát huy và những sai lệch tồn đọng để từ đó kịp thời có những điều chỉnh hợp nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục đã đề ra.
Nhƣ vậy việc ĐG sẽ góp phần kích thích hoạt động học tập của HS, cung cấp những thông tin phản hồi về quá trình học tập của HS để họ tự điều chỉnh quá trình học tập. Đồng thời cung cấp những thông tin cần thiết giúp GV phân loại HS, xác định đúng điểm xuất phát cũng nhƣ kế hoạch cho hoạt động dạy 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com học,có phƣơng pháp dạy học phù hợp với đối tƣợng HS, tự hoàn thiện bản thân, phấn đấu nâng cao chất lƣợng và hiệu quả dạy học. Khái niệm kiểm tra KT theo từ điển Tiếng Việt đƣợc hiểu là xem xét tình hình thực tế để ĐG nhận xét. - Theo khoa học giáo dục: KT là phƣơng tiện và hình thức của ĐG.
Trong KT ngƣời ta xác định trƣớc các tiêu chí và không thay đổi chúng trong quá trình KT. Nhƣ vậy, KT là quá trình hẹp hơn ĐG, hay nói cách khác, KT là một khâu của quá trình ĐG. Trong quá trình dạy học, KT – ĐG là một thành phần của quá trình dạy học, đảm nhận một chức năng lí luận dạy học cơ bản, chủ yếu không thể thiếu đƣợc trong quá trình này. KT có ba chức năng liên kết, thống nhất, thâm nhập vào nhau và bổ sung cho nhau đó là: ĐG, phát hiện lệch lạc và điều chỉnh.
- Về mặt lí luận dạy học: Theo Nguyễn Bá Kim: “KT nhằm cung cấp cho thầy và trò những thông tin về kết quả dạy học, trước hết là về tri thức và kĩ năng của từng HS nhưng cũng lưu ý cả về mặt năng lực, thái độ và phẩm chất của họ cùng với sự diễn biến của quá trình dạy học” [11, tr.KT có vai trò thông tin ngƣợc trong quá trình dạy học, nó cho biết những thông tin, kết quả về quá trình dạy của thầy và quá trình học của HS để từ đó có những quyết định cho sự điều khiển tối ƣu của cả thầy và trò.