ĐẶT VẤN ĐỀ. Error! Bookmark not defined. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU. Error! Bookmark not defined.
Đánh giá hoạt động giám sát bệnh truyền nhiễm tại huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2016. Đánh giá khả năng ứng phó trong phòng chống bệnh truyền nhiễm của huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2016. TỔNG QUAN TÀI LIỆU. Một số khái niệm.
Chức năng của hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm. Qui định của Ngành y tế Đồng Tháp về các hoạt động giám sát và khả năng ứng phó trong phòng chống bệnh truyền nhiễm:. Mô hình hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm. Hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm ở Việt Nam hiện nay.
Chức năng của một số đơn vị trong hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm tại huyện Cao Lãnh. Tình hình một số bệnh truyền nhiễm gây dịch tại Việt Nam thời gian qua. Một số nghiên cứu trong và ngoài nước, phương pháp, kết quả, hạn chế:. Giới thiệu tóm tắt địa bàn nghiên cứu.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Đối tượng nghiên cứu. Thời gian và địa điểm nghiên cứu:. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:.
Phương pháp thu thập số liệu:. Các biến số nghiên cứu:. Các khái niệm, thước đo. Phương pháp phân tích số liệu:.
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số. Đánh giá hoạt động giám sát bệnh truyền nhiễm tại huyện Cao Lãnh. Đánh giá khả năng ứng phó trong phòng chống dịch.
Hoạt động giám sát bệnh truyền nhiễm tại huyện Cao Lãnh. Khả năng ứng phó trong phòng chống dịch. Đối với hoạt động giám sát bệnh truyền nhiễm tại huyện Cao Lãnh:. Đối với khả năng ứng phó trong phòng chống dịch.53 TÀI LIỆU THAM KHẢO .54 Tài liệu Tiếng Việt: .54 Tài liệu Tiếng Anh: .57 Phụ lục 1: Các biến số nghiên cứu .57 Phụ lục 2: Các bên liên quan và mối quan tâm .62 Phụ lục 3: Câu hỏi và các chỉ số đánh giá .64 Phụ lục 4: Phiếu điều tra .69 Phụ lục 5: Bảng thu thập số liệu thứ cấp .73 Phụ lục 6: Bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu Giám đốc TTYT .75 Phụ lục 7: Hướng dẫn phỏng vấn sâu trưởng Phòng Y tế.76 Phụ lục 8: Hướng dẫn phỏng vấn sâu trưởng Trạm Y tế .77 Phụ lục 9: Bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu PCT UBND xã .78 Phụ lục 10: Bảng hướng dẫn thảo luận nhóm .79 iv DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BV&CSSKND Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân BCĐ Ban chỉ đạo BTN Bệnh truyền nhiễm BYT Bộ Y tế CDC Center for Disease control and Prevention (Trung tâm kiểm soát và phòng chống bệnh tật Hoa Kỳ) CN YTCC Cử nhân Y tế công cộng GSDTH Giám sát dịch tễ học HTGS Hệ thống giám sát MERS-Cov Viêm đường hô hấp cấp Trung đông do vi rút Corona MT Môi trường NVYT Nhân viên y tế PC BTN Phòng chống bệnh truyền nhiễm PCD Phòng chống dịch PVS Phỏng vấn sâu PYT Phòng y tế SARS Hội chứng viêm đường hô hấp cấp nặng SXH Sốt xuất huyết TCM Tay chân miệng TLN Thảo luận nhóm UBND Ủy ban nhân dân VSDTTW Vệ sinh dịch tễ trung ương YTA Y tế ấp YTCC Y tế công cộng v YTDP Y tế dự phòng WHO Tổ chức Y tế thế giới vi DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 3.1: Số lượng bệnh truyền nhiễm phải giám sát của NVYT theo Thông tư 48/2010/TT-BYT Bảng 3.2: Số nhân viên y tế có sử dụng định nghĩa ca bệnh trong giám sát.3: Cách thức thu thập số liệu BTN của NVYT.4: Cách thức quản lý số liệu BTN của NVYT.5: Thời gian lưu số liệu được tổng hợp của NVYT.6: Phân tích số liệu hàng tháng.7: Sử dụng bản đồ dịch tễ phân tích số liệu Bảng 3.8: Mục đích sử dụng số liệu giám sát Bảng 3.9: Bệnh phải báo cáo khẩn.10: Số lượng bệnh phải báo cáo theo tuần.11: Chia sẻ thông tin BTN với các đơn vị liên quan.12: Lập Kế hoạch giám sát BTN Bảng 3.13: Xử trí bước đầu khi có ca bệnh nghi ngờ.14: Tuổi của NVYT trong hệ thống giám sát Bảng 3.15: Thời gian công tác của NVYT trong hệ thống giám sát Bảng 3.16: Trình độ chuyên môn CBYT Bảng 3.17: Số lần được tập huấn của NVYT vii TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm tại Việt Nam được thiết lập từ tuyến trung ương đến tuyến xã, phường và được đặt dưới sự chỉ đạo về chuyên môn cao nhất là Cục Y tế dự phòng.
Ở huyện Cao Lãnh của tỉnh Đổng Tháp trong những năm gần đây tình hình bệnh truyền nhiễm luôn có diễn biến phức tạp, một số bệnh truyền nhiễm luôn có số mắc cao hơn các địa phương khác như: bệnh sốt xuất huyết, bệnh tay chân miệng và một số dịch bệnh khác đã xảy ra như cúm A (H5N1), bệnh do liên cầu lợn ở người… việc này khiến cho lãnh đạo của Trung tâm Y tế huyện lo lắng về công tác giám sát phòng chống dịch của huyện có làm tốt hay chưa? Với vấn đề như vậy, được sự hợp tác và hỗ trợ của lãnh đạo y tế địa phương nghiên cứu viên đã chọn vấn đề nghiên cứu: Đánh giá hoạt động giám sát và khả năng ứng phó trong phòng chống bệnh truyền nhiễm tại huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2016. Nghiên cứu này nhằm mô tả thực trạng và khả năng ứng phó của nhân viên y tế trong phòng chống bệnh truyền nhiễm tại huyện Cao Lãnh; xác định những khó khăn và thuận lợi trong hoạt động giám sát để đưa ra những khuyến cáo từ đó giúp tăng cường hiệu quả của hoạt động giám sát và khả năng ứng phó trong phòng chống dịch bệnh của huyện Cao Lãnh. Cuộc khảo sát đã được tiến hành từ tháng 3/2016 đến tháng 9/2016 với phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định lượng với định tính. Nghiên cứu định lượng được thực hiện trên 71 cán bộ, nhân viên hiện làm nhiệm vụ giám sát bệnh truyền nhiễm tại huyện Cao Lãnh bao gồm Trung tâm Y tế huyện, Bệnh viện đa khoa huyện và 18 Trạm Y tế.
Nghiên cứu định tính, phỏng vấn sâu được thực hiện trên các đối tượng là Giám đốc Trung tâm Y tế huyện, Trưởng Phòng Y tế huyện, 3 phó chủ tịch phụ trách văn xã, 3 Trưởng trạm y tế, và 3 cuộc thảo luận nhóm với cán bộ y tế ấp. Số liệu được thu thập và xử lý bằng phần mềm SPSS 16. Kết quả nghiên cứu đánh giá cho thấy đội ngũ nhân viên y tế trong hệ thống giám sát của huyện Cao Lãnh rất có kinh nghiệm trong hoạt động giám sát phòng chống dịch: các ca bệnh nghi ngờ sau khi được phát hiện được điều tra và xử lý kịp thời trong vòng 48 giờ theo quy định tại Thông tư 48/2010, các báo cáo từ tuyến dưới lên được thực hiện đẩy đủ, công tác phản hồi ca bệnh của tuyến trên cũng được thực hiện thường xuyên. Về khả năng ứng phó trong phòng chống bệnh truyền nhiễm huyện là khá tốt, cụ thể hàng năm đều có xây dựng kế hoạch phòng chống các loại dịch bệnh thường gặp và các bệnh dịch nguy hiểm có nguy cơ xâm nhập vào địa phương; hậu cần kinh phí, trang thiết bị và phương tiện khá đầy đủ.
Tác giả có đưa ra khuyến nghị nên tiếp tục huấn luyện và đào tạo lại thường xuyên về công tác giám sát phòng chống bệnh truyền nhiễm để luôn duy trì được kết quả tốt nhất cho công tác này. 1 ÐẶT VẤN ÐỀ Trên thế giới trong khi cuộc chiến với các BTN đã biết trước đây vẫn còn đang tiếp diễn thì các mối đe dọa bệnh tật mới lại tiếp tục xuất hiện. Mặc dù một số bệnh có thể được dự phòng, chữa trị và thanh toán nhờ việc sử dụng kháng sinh, vắc xin, hóa chất và các nỗ lực y tế khác nhưng với sự phát triển của xã hội, biến đổi của môi trường sống… khiến một số bệnh mới nổi khác lại xuất hiện như SARS, HIV/AIDS, Ebola, cúm A/H5N1, bệnh do liên cầu lợn ở người, Zika… và một số bệnh truyền nhiễm gây dịch cũ đang có chiều hướng quay trở lại. Giám sát BTN gây dịch là một phần của hệ thống giám sát YTCC và là một phần của hệ thống thông tin y tế.
Mục tiêu của hệ thống giám sát và việc sử dụng thông tin đó quyết định việc thu thập số liệu và các thông tin trong hệ thống đó. Nếu việc thực hiện giám sát bệnh tốt, thường xuyên và có hệ thống trong nhiều năm thì có thể phát hiện được quy luật phát sinh, phát triển của bệnh và dự báo được sự bùng nổ của dịch bệnh. Các nước trên thế giới đều thực hiện hoạt động giám sát với nhiều hình thức khác nhau nhưng đều tập trung vào các BTN gây dịch đe dọa đến sức khỏe con người và cách đáp ứng phòng chống các dịch bệnh đó. Giám sát BTN là nhiệm vụ và là Chiến lược quốc gia[4].
Hoạt động giám sát BTN của Việt Nam hiện nay thực hiện theo Thông tư 48/2010/TT-BYT ngày 31/12/2010 của Bộ Y tế. Tuy nhiên, hệ thống giám sát này còn bộc lộ nhiều điểm yếu như chưa có định nghĩa ca bệnh chuẩn, nhân viên giám sát thiếu kỹ năng chẩn đoán, phát hiện dịch, phân tích dữ liệu cũng như gửi báo cáo giám sát không đúng hạn và không đầy đủ… Một số nghiên cứu trước đây về hệ thống giám sát BTN tại một số Trung tâm Y tế huyện đã chỉ ra rằng hoạt động giám sát thu thập số liệu của nhân viên giám sát dịch tễ thực hiện theo kinh nghiệm là chính, hoạt động báo cáo chỉ thực hiện được báo cáo khẩn từ xã lên huyện, còn các báo cáo theo tuần, tháng, năm hầu như không thực hiện được. Phản hồi thông tin báo cáo từ tuyến tỉnh, huyện cho tuyến dưới chủ yếu thông qua giao ban tháng[16]. Các khó khăn trong hoạt động GSBTN thường xuyên tại cộng đồng là: năng lực phát hiện ca bệnh và ý thức báo dịch của nhân viên 2 y tế tại trạm y tế xã, thị trấn và đội ngũ y tế ấp còn chưa cao, trong khi đó hầu hết các cơ sở y tế tư nhân chưa tham gia vào hệ thống giám sát dịch tễ và năng lực giám sát của nhân viên y tế còn hạn chế do trình độ chuyên môn thấp và không được tập huấn thường xuyên.