Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tài nguyên rừng công cộng, chế độ sở hữu tài nguyên rừng cộng cộng.Tài nguyên rừng công cộng. Trong nhiều xã hội, rất nhiều loại tài nguyên thiên nhiên, như tài nguyên nước, đồng cỏ, và rừng, không phải do cá nhân hoặc tổ chức nhà nước quản lý, mà được quản lý chung bởi cộng đồng địa phương hoặc các nhóm người sử dụng. Vì vậy, sự hiểu biết đặc điểm của tài nguyên và chế độ quyền sở hữu các nguồn tài nguyên đó là rất quan trọng trong quản lý tài nguyên thiên nhiên.
Nhiều khu rừng có các đặc tính của tài nguyên chung. Thuật ngữ tài nguyên rừng công cộng hay tài nguyên rừng sở hữu công cộng thường được dùng để chỉ loại tài nguyên này. Mặc dù tài nguyên rừng chung không phải là hàng hóa tư cũng không phải là hàng hóa công, nhưng nó chia sẻ tính chất của cả 2 loại hàng hóa này. Giống như hàng hóa công, tài nguyên chung có đặc điểm là cùng sử dụng và có tính loại trừ thấp khi ngăn chặn các người sử dụng khác không thuộc cộng đồng, và nó giống hàng hóa tư ở điểm là tính mất đi khi sử dụng.
Những đặc điểm trên của tài nguyên rừng công cộng gây nên những khó khăn trong quản lý và sử dụng. Giống như việc sử dụng hàng hóa công, do có tính loại trừ thấp nên dễ tạo nên hiệu ứng mạnh ai lấy làm, tranh nhau khai thác, mọi người thường không có động lực để bảo vệ và quản lý tài nguyên mà thường có xu hướng khai thác càng nhiều càng tốt. Hơn nữa do đặc tính mất đi khi sử dụng vấn đề sử dụng quá mức thường xảy ra khi có quá nhiều người cùng tham gia khai thác một khu rừng. Vì có lý do trên, tài LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 nguyên công cộng thường bị sử dụng quá mức và có nguy cơ dẫn đến kết quả cuối cùng là mất đi.
Chế độ sở hữu tài nguyên rừng công cộng Gần đây, nhiều nhà khoa học đã quan sát thấy rằng không phải tất cả các tài nguyên rừng công cộng đều dẫn đến kết cục bị mất đi, mà thấy rằng quan trọng nhất cho việc quản lý tài nguyên rừng là chế độ sở hữu các nguồn tài nguyên đó. Sở hữu công cộng, quyền sử dụng được nắm giữ và kiểm soát bởi một cộng đồng hay một nhóm người xác định, có thể quản lý có hiệu quả và cần có hành động tập thể, tức là tạo hàng hóa công. Nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đã chứng minh rằng, ở chế độ quản lý cộng đồng tài nguyên rừng có thể được quản lý một cách bền vững nếu cộng đồng có đủ 4 quyền sử dụng cơ bản: Tiếp cận, sử dụng, quản lý và loại trừ, chứ không cần cả quyền chuyển nhượng Như vậy về mặt lý thuyết có thể thấy rằng thực chất quản lý rừng cộng đồng là quản lý tài nguyên dưới chế độ sở hữu cộng đồng, và có thể được quản lý bền vững. Trên thế giới 1.
Rừng ở châu Á được coi là một trong những tài nguyên công cộng quan trọng nhất, quản lý rừng công cộng bàn tới mọi phương thức quản lý rừng dựa trên cơ sở nhóm. Nó gồm bất cứ tình huống nào, trong đó trách nhiệm quản lý đã được giao cho một nhóm hoặc tập thể đặc biệt như dòng họ, bộ tộc hoặc đẳng cấp (quản lý thôn xã), một làng bản hoặc cộng đồng… Quản lý rừng tập thể bàn tới cách sắp xếp theo đó một số nhóm người nhất định sẽ nắm lấy một số quyền về đất và cây rừng cùng với những sản phẩm của chúng. Trách nhiệm quản lý rừng được giao chung cho một nhóm địa phương. Như vậy, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 quản lý rừng công cộng dựa trên sở hữu công cộng hoặc quyền lợi được giao cho những tổ chức chung, thường gắn với những nhóm nhỏ như thôn bản hoặc dòng họ.
Quản lý rừng cộng cộng, mà điển hình được giao cho cộng đồng ở Châu Á thường được quan tâm chú ý ở một số nước như: - Tại Nepan việc quản lý và bảo vệ rừng cộng đồng trong đó có rừng và các tài sản khác thường gắn với các thôn bản nhỏ và hiu quạnh. Khi tìm hiểu tính chất của việc quản lý tài nguyên rừng ở cấp thôn bản thì thấy chúng đều có những nét chung và chúng thường có hiệu lực, đặc biệt là về mặt bảo vệ. Các chỉ tiêu về quy chế tổ chức, phần nào dựa trên sự thống nhất ý kiến của những người sử dụng là phần quan trọng nhất của tất cả những hệ thống quản lý rừng bản địa. Và những hệ thống quản lý rừng bản địa này chỉ mới được xây dựng từ năm 1950.
Từ năm đó tới nay Chính phủ Nepan đã có một thay đổi mạnh mẽ về thái độ đối với rừng vùng đồi, đây là một sự chuyển biến sâu sắc do nạn tàn phá rừng ngày càng rõ nét và ảnh hưởng của nó tới đời sống nông thôn ngày nay. Đầu tiên là việc thi hành luật bảo vệ phát triển rừng thông qua hệ thống pháp luật của chính phủ, nhưng việc đó đã thất bại. Sau đó đã có nhiều thay đổi về chính sách, luật lệ chuyển việc quản lý rừng cho chính những người sử dụng chúng ở thôn bản [20]. - Tại Ấn độ, mặc dầu quá trình hiện đại hóa mang lại nhiều lợi ích cho những thôn bản nằm xung quanh trung tâm chính trị Delhi thì nó cũng đã mang lại một sự bùng nổ về dân số, làm đảo lộn cân bằng tài nguyên và cũng dẫn tới sự tan rã của các tổ chức cổ truyền như các cộng đồng thôn bản.
Ngày càng có sự chuyển mạnh đất công từ sở hữu cộng đồng sang các phương thức sử dụng tư và cả sự chuyển thể đất công từ đất trồng trọt và chăn nuôi sang các phương thức sử dụng khác. Kết quả là diện tích đất hoang hóa ngày một gia tăng. Trong thế kỷ 19, có tới 2/3 đất đai Ấn độ đều đặt dưới sự kiểm tra của cộng đồng nhưng quá trình tư nhân hóa và nhà nước sung công đã làm giảm tỷ lệ đó. Nhiều hình thức bản địa và cổ truyền của phương thức quản lý LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 tài nguyên sở hữu công cộng đã bị suy yếu và tan rã, tuy nhiên chúng vẫn đóng một vai trò rất quan trọng trong các hệ thống nông nghiệp và trong đời sống của dân nghèo.
Do đó, để tiến tới việc quản lý tài nguyên sở hữu công cộng bền vững chính phủ Ấn Độ cần dành ưu tiên cao cho việc sửa đổi chính sách và các sự yếu kém, sai sót của các luật lệ hiện hành cũng như hạn chế việc khuyến khích tiếp tục tư nhân hóa.Vào đầu những năm 1970, Chính phủ ban hành nhiều chính sách nhằm khuyến khích phát triển lâm nghiệp làng bản để giảm sức ép đối với việc tàn phá rừng. Trong khoảng 15 năm, Chính phủ đã đầu tư khoảng 400 triệu USD cho chương trình này. Các vườn ươm được thiết lập với sự tham gia của người dân [21]. - Tại Indonesia, người dân ở vùng Kalimanta có tập quán canh tác du canh, lúc ban đầu du canh được tiến hành tại các khu rừng tự nhiên, sau đó các diện tích rừng thứ sinh cũng được sử dụng, từng bước các hộ gia đình đã bắt đầu đòi hỏi quyền được sở hữu nương rẫy và đất bỏ hóa.
Với áp lực dân số ngày càng gia tăng những quyền lợi đó được mở rộng cho thế hệ tiếp theo. Những nguồn lâm sản phụ như song mây, gỗ trầm hương và tổ ong đã có sự cạnh tranh và không thỏa hiệp về lợi ích giữa người dân địa phương và những người bên ngoài. Tại miền Nam và Tây Sumatra, các thành viên cộng đồng có quyền thu hái lâm sản và mở nương làm nông nghiệp trên đất rừng của làng, trong đó một số đám rừng được giữ lại và không ai được đụng chạm tới chúng [20] - Tại miền núi ở Nam Á thường có một mắt xích chặt chẽ theo cổ truyền giữa đất nông nghiệp tư và rừng. Rừng cung cấp những vật tư quan trọng cho toàn bộ việc kinh doanh trang trại như phân xanh, năng lượng củi đun nấu, sưởi ấm và cho cả việc xây dựng nhà cửa, chuồng trại dưới dạng gỗ xây dựng và nhà cột.
Rừng cũng là đất đai chăn thả và cung cấp thức ăn gia súc cho toàn bộ vật nuôi của nông dân trong đó có trâu, bò, dê, cừu là thành phần quan trọng của hệ canh tác địa phương. Mối quan hệ khăng khít giữa con người, đất đai, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 gia súc với rừng trong đó nội bộ các hệ canh tác sinh tồn đã dẫn tới một loạt tổ chức địa phương nhằm quản lý rừng công cộng trên phần đất lớn của lục địa này. Các phương thức quản lý rừng không chỉ hướng về việc thu lượm các sản vật của gỗ mà còn hướng tới việc kiểm tra thu hái thức ăn gia súc và chăn thả trong rừng. Nhiều phương thức quản lý như luân canh đồng cỏ, chăn thả gia súc, hoặc chặt cụt ngọn cành cây để nuôi gia súc tại chuồng thường được vận dụng và bô sung thay thế cho cách chăn thả tự do suốt đêm ngày.
- Tại Chiang Mai – Thái Lan, tháng 9/2001 đã tổ chức một hội thảo quốc tế về lâm nghiệp cộng đồng, trong đó đã phản ánh nhu cầu phát triển phương thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng ở các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Nhìn chung việc phân chia lợi ích hay còn gọi là quyền hưởng lợi giữa những người dân cộng đồng bản địa với Nhà nước và các tổ chức bên ngoài cộng đồng ở những nước này vẫn đang là quan hệ mâu thuẫn gay gắt nhất. Phần lớn các nước này đều đang phải gánh chịu hậu quả của cách can thiệp từ trên xuống trong việc quản lý tài nguyên mà không quan tâm tới truyền thống địa phương, kinh nghiệm và khả năng của người dân. Do chưa có những thỏa thuận hợp lý giữa những thành viên bên ngoài và bên trong cộng đồng trong việc quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng và phân chia các lợi ích từ rừng nên dẫn đến hậu quả là tài nguyên rừng và đất rừng ngày càng bị suy giảm.
Người dân cộng đồng địa phương cũng như là các tổ chức bên ngoài cộng đồng của các nước trên hầu hết đều có những biện pháp cố gắng duy trì nguồn tài nguyên đã bị suy thoái những chưa đạt được hiệu quả.