CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. ĐAU VÙNG CỔ GÁY VÀ THOÁI HÓA CỘT SỐNG CỔ 1. Đau vùng cổ gáy Đau vùng cổ gáy có thể do căng cơ hoặc dây chằng, viêm khớp hoặc dây thần kinh bị chèn ép. Khoảng 10% người lớn bị đau cổ trong cùng một thời điểm tầm soát.
Hầu hết các trường hợp, bất kể nguyên nhân là gì, đau cổ gáy sẽ được cải thiện khi điều trị bảo tồn [1]. Đau cổ gáy thường được phân loại là "cấp tính" (kéo dài dưới 6 tuần), "bán cấp" (kéo dài từ 6 đến 12 tuần), hoặc "mãn tính" (kéo dài hơn 12 tuần). Trong khi hầu hết các cơn đau cấp tính thuyên giảm nhanh chóng, nhưng có một số bệnh nhân lại tiếp tục bị đau dài hơn [7]. Có nhiều nguyên nhân có thể gây ra đau cổ gáy, thường rất khó để biết chắc chắn nguyên nhân nào gây ra đau.
Điều này là do khám lâm sàng, và thậm chí chẩn đoán hình ảnh không thể dễ dàng phân biệt giữa các nguyên nhân tiềm ẩn khác nhau. Ngoài ra, những thay đổi về xương và thoái hóa khớp có thể xuất hiện trên các chẩn đoán hình ảnh thường không tương quan với mức độ nghiêm trọng của cơn đau. Nói cách khác, có thể bị đau cổ gáy khi chẩn đoán hình ảnh tương đối bình thường, hoặc không (hoặc chỉ đau nhẹ) mặc dù có những bất thường đáng kể trên hình ảnh [8]. Căng cơ cổ có thể xảy ra khi có chấn thương các cơ ở cổ gáy, gây co cơ đột ngột.
Căng cơ cổ gáy có thể là kết quả của những căng thẳng về thể chất trong cuộc sống hàng ngày, bao gồm sai tư thế, căng cơ do căng thẳng tâm lý hoặc thói quen ngủ sai tư thế. Các chấn thương liên quan đến thể thao cũng có thể dẫn đến căng cơ cổ gáy. Thông thường, các triệu chứng căng cơ cổ gáy bao gồm đau, cứng và căng, có thể kéo dài đến sáu tuần. 4 Thoái hóa cột sống cổ (THCSC) là một tình trạng gây ra bởi những thay đổi thoái hóa.
Điều này dẫn đến không gian đĩa đệm dần dần bị thu hẹp, mất hình dạng xương vuông và các gai xương bình thường. Những gai này có thể làm tăng áp lực lên các mô xung quanh và dẫn đến chèn ép dây thần kinh. Quá trình thoái hóa bình thường có thể gây ra sự thay đổi ở mức độ nào đó, mặc dù những thay đổi thoái hóa nghiêm trọng không phải là điển hình. Các triệu chứng của THCSC có thể bao gồm đau cổ gáy, tê hoặc cảm giác bất thường ở cánh tay hoặc vai, đau đầu hoặc hạn chế khả năng cử động cổ.
Đau tai cũng có liên quan đến thoái hóa cột sống cổ trong một số trường hợp. Thoái hóa đĩa đệm có thể là nguyên nhân phổ biến nhất của đau cổ gáy. Nguyên nhân là do những thay đổi thoái hóa trong cấu trúc của một hoặc nhiều đĩa đệm ở giữa các đốt sống cổ. Đau vùng cổ gáy chủ yếu xuất hiện khi xoay hoặc nghiêng đầu.
Cơn đau có thể trở nên tồi tệ hơn khi cổ bị giữ ở một tư thế trong thời gian dài, chẳng hạn như xảy ra khi lái xe, đọc sách hoặc làm việc trên máy tính. Thường có sự co và căng cơ kèm theo. Viêm các diện khớp nằm ở hai bên của đốt sống có thể gây đau ở giữa hoặc bên cạnh cổ; một số người cũng nhận thấy đau ở vai, xung quanh bả vai, ở chẩm, tai và hàm, hoặc ở một cánh tay. Hàng loạt các nguyên nhân khác cũng có thể gây đau vùng cổ gáy bao gồm: chấn thương vùng cổ; Đau cơ vùng cổ do các rối loạn gây căng cơ bởi căng thẳng tâm lý, trầm cảm hoặc mất ngủ; Chứng phát triển xương lan tỏa vôi hóa bất thường (lắng đọng xương) ở các dây chằng và gân dọc theo cột sống cổ; Bệnh lý tủy sống cổ; Bệnh lý rễ thần kinh cổ; Những thay đổi thoái hóa và thoát vị đĩa đệm cột sống cổ [9].
Dịch tễ học và cơ chế bệnh sinh của thoái hóa cột sống cổ Thoái hóa cột sống cổ là một thuật ngữ bao gồm một loạt các thay đổi thoái hóa tiến triển ảnh hưởng đến tất cả các thành phần của cột sống cổ (đĩa đệm, diện khớp, khớp, dây chằng). Đây là một quá trình lão hóa tự nhiên và xuất hiện ở phần lớn mọi người sau năm mươi tuổi [1]. Các triệu chứng của thoái hóa cột sống cổ biểu hiện như đau vùng cổ gáy, hạn chế vận động và có thể đi kèm với các triệu chứng lan tỏa khi có sự chèn ép của các cấu trúc thần kinh. Đau vùng cổ gáy là một tình trạng phổ biến chỉ đứng sau đau thắt lưng.
Do gánh nặng bệnh tật liên quan đến tình trạng tàn tật và chi phí kinh tế, các bác sỹ cần nhận biết bệnh thoái hóa cột sống cổ có triệu chứng và chỉ định các biện pháp can thiệp dựa trên bằng chứng, hiệu quả về chi phí. Yếu tố nguy cơ chính góp phần vào tỷ lệ mắc bệnh thoái hóa cột sống cổ là sự thoái hóa của đĩa đệm theo thời gian và các yếu tố nguy cơ với bệnh cột sống cổ. Những thay đổi thoái hóa trong cấu trúc xung quanh, bao gồm khớp - không phải đốt sống, diện khớp, dây chằng dọc sau (PLL), và dây chằng vàng đều kết hợp gây ra hẹp ống sống và đĩa đệm. Do đó, tủy sống, mạch máu và rễ thần kinh có thể bị chèn ép, dẫn đến ba hội chứng lâm sàng mà thoái hóa cột sống cổ biểu hiện: đau cổ gáy, bệnh lý tủy cổ và bệnh lý đốt sống cổ.
Các yếu tố có thể góp phần đẩy nhanh quá trình bệnh và khởi phát sớm thoái hóa cột sống cổ bao gồm chấn thương, hẹp ống sống bẩm sinh, loạn dưỡng cơ cổ và các hoạt động thể thao chẳng hạn như bóng bầu dục, bóng đá… [9]. Hầu hết những người bị biến đổi đốt sống của cột sống cổ trên hình ảnh X quang vẫn không có triệu chứng, với 25% người dưới 40 tuổi, 50% người trên 40 tuổi và 85% người trên 60 tuổi cho thấy điều này. Các cấp độ bị ảnh hưởng thường xuyên nhất là C6-C7, tiếp theo là C5-C6. Thoái hóa cột sống 6 cổ có triệu chứng thường gặp là đau cổ gáy.
Trong dân số nói chung, tỷ lệ hiện mắc chứng đau cổ gáy dao động từ 0,4% đến 41,5%, tỷ lệ mắc bệnh trong 1 năm từ 4,8% đến 79,5% và tỷ lệ hiện mắc suốt đời có thể cao tới 86,8% [10]. Cơ chế bệnh sinh của thoái hóa cột sống cổ bao gồm đợt thoái hóa tạo ra những thay đổi cơ sinh học ở cột sống cổ, biểu hiện là sự chèn ép thứ phát của các cấu trúc thần kinh và mạch máu. Sự gia tăng tỷ lệ keratin-chondroitin thúc đẩy thay đổi chất nền proteoglycan dẫn đến mất dịch, protein và mucopolysaccharides trong đĩa đệm. Sự kém nuôi dưỡng đĩa đệm làm cho nhân tủy mất tính đàn hồi khi nó co lại và xơ hơn.
Khi nhân tủy mất khả năng duy trì trọng lượng chịu tải một cách hiệu quả, nó bắt đầu thoát vị qua các sợi xơ của vòng đệm và góp phần làm mất chiều cao đĩa đệm, dây chằng lỏng lẻo, xô lệch và chèn ép. Với việc đĩa đệm mất dịch thêm, các sợi hình khuyên trở nên bị tổn thương cơ học hơn khi chịu tải trọng nén, tạo ra những thay đổi đáng kể trong sự phân bố tải trọng dọc theo cột sống cổ. Kết quả là làm đảo ngược tình trạng bình thường của sột sống cổ. Sự tiến triển của kyphosis làm cho các sợi hình khuyên và sợi Sharpey bị bong ra khỏi các cạnh thân đốt sống, dẫn đến sự hình thành xương phản ứng.
Những mỏm xương hoặc chất tạo xương này có thể hình thành dọc theo rìa bụng hoặc mặt sau của cột sống cổ, sau đó có thể phát triển vào phía ống sống và đĩa đệm. Hơn nữa, sự gián đoạn trong cân bằng tải dọc theo cột sống tạo ra tải trọng dọc trục lớn hơn lên các khớp và mặt khớp không đốt sống, gây ra sự phì đại hoặc mở rộng của các khớp và tăng tốc độ hình thành xương đẩy vào các tổ chức thần kinh xung quanh [11]. Thoát vị đĩa đệm có thể là tiền đề ban đầu cho sự phát triển của bệnh thoái hóa cột sống. Trong khi cả đĩa đệm và đốt sống đều trải qua những thay đổi thoái hóa tương tự nhau (ví dụ, thâm nhập đại thực bào, điều hòa các yếu 7 tố tăng trưởng và cytokine), vẫn tồn tại sự khác biệt về mô miễn dịch giữa hai quá trình bệnh.
Trong một nghiên cứu năm 2008 của Kokubo và cộng sự, tổng số 500 đĩa đệm đốt sống cổ được lấy ra từ 198 bệnh nhân thoát vị đĩa đệm và 166 bệnh nhân thoái hóa đốt sống đã được kiểm tra thông qua phân tích mô học và nhuộm hóa mô miễn dịch. Các tế bào chondrocytes lấy từ cả hai nhóm đều có nhiều đại thực bào dương tính với CD68, yếu tố hoại tử khối u-alpha (TNF)-alpha, metalloproteinase (MMP)-3, yếu tố nguyên bào sợi cơ bản (bFGF) và yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (VEGF). Tuy vậy, thoát vị đĩa đệm chứng tỏ phản ứng viêm mạnh mẽ hơn liên quan đến sự xâm nhập của đại thực bào với CD68 vào lớp ngoài của sợi hình khuyên [12]. Các đánh giá về bệnh thoái hóa cột sống cổ 1.
Đánh giá các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng Khai thác tiền sử bệnh nên tập trung vào diễn biến của cơn đau, hướng lan của cơn đau, các sự kiện khởi phát và các yếu tố làm trầm trọng thêm. Về mặt cổ điển, thoái hóa đốt sống cổ có triệu chứng biểu hiện như một hoặc nhiều trong ba bệnh cảnh lâm sàng chính sau đây: - Đau cổ gáy: Bệnh nhân cảm nhận về độ cứng và đau ở cột sống cổ, nghiêm trọng nhất ở tư thế thẳng và giảm bớt khi nghỉ ngơi trên giường - khi loại bỏ tải trọng khỏi cổ. Cử động cổ, đặc biệt là trong trường hợp gập người và cúi người, thường làm tăng cơn đau. - Đau lan tỏa (hội chứng rễ thần kinh): Các triệu chứng lan tỏa thường theo sự phân bố tùy thuộc vào các rễ thần kinh liên quan và có thể biểu hiện như đau cổ một bên hoặc hai bên, đau cánh tay, dị cảm và yếu cánh tay hoặc bàn tay.
Đau trầm trọng hơn khi nghiêng đầu về phía bị ảnh hưởng hoặc do gập người và cúi người về phía bị ảnh hưởng. - Bệnh lý tủy cổ: Thường có khởi phát âm ỉ kèm theo hoặc không kèm theo đau cổ gáy.