Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp 1. Khái quát đất nông nghiệp 1. Đất nông nghiệp Đất nông nghiệp đôi khi còn gọi là đất canh tác hay đất trồng trọt là những vùng đất, khu vực thích hợp cho sản xuất, canh tác nông nghiệp, bao gồm cả trồng trọt và chăn nuôi.
Đây là một trong những nguồn lực chính trong nông nghiệp. Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng bao gồm: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất sản xuất nông nghiệp khác (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2004) Theo khoản 1 điều 10 Luật Đất Đai 2013 thì nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: - Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; - Đất trồng cây lâu năm; - Đất rừng sản xuất; - Đất rừng phòng hộ; - Đất rừng đặc dụng; - Đất nuôi trồng thủy sản; - Đất làm muối; - Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và 4 các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh; 1. Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất nông nghiệp Đất đai là khoảng không gian lãnh thổ cần thiết đối với mọi quá trình sản xuất trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người. Nói về tầm quan trọng của đất C.
Mac viết: Đất là một phòng thí nghiệm vĩ đại, kho tang cung cấp các tư liệu lao động, vật chất, là vị trí để định cư, là nền tảng của tập thể” (C. Đối với nông nghiệp, đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất là điều kiện vật chất đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu sự tác động trong quá trình sản xuất như: cày, bừa, xới, xáo…) và cung cấp lao động hay phương tiện lao động. Quá trình sản xuất luôn có mối quan hệ chặt chẽ với độ phì và quá trình sinh học tự nhiên của đất. Thực tế cho thấy trong quá trình phát triển xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh, các thành tựu khoa học công nghệ đều được xây dựng trên nền tảng cơ bản- sử dụng đất.
Trong nông nghiệp ngoài vai trò là cơ sở không gian đất còn có chức năng đặc biệt quan trọng đó là: - Là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của con người trong quá trình sản xuất - Đất tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, cung cấp cho cây trồng nước, muối khoáng và các chất dinh dưỡng khác cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Như vậy đất trở thành công cụ sản xuất. Năng suất và chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào độ phì nhiêu của đất. Trong đó tất cả các loại tư liệu sản 5 xuất dung trong nông nghiệp chỉ có đất mới có chức năng này (Lương Văn Hinh và CS, 2003).
Chính vì vậy có thể nói đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Khái quát sử dụng đất nông nghiệp 1. Khái niệm sử dụng đất Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người-đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường Căn cứ vào quy luật phát triển kinh tế xã hội cùng với yêu cầu không ngừng ổn định và bền vững về mặt sinh thái quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng hợp lý nhất là nguồn tài nguyên đất đai, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới hiệu ích sinh thái, kinh tế, xã hội cao nhất. Trong mỗi phương thức sản xuất nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai.
“Với vai trò là nhân tố của sức sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất được thể hiện ở các khía cạnh sau: - Sử dụng đất hợp lí về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử dụng đất - Phân phối hợp lí cơ cấu đất đai trên diện tích đất đai được sử dụng, hình thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất - Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy mô kinh tế sử dụng đất - Giữ mật độ sử dụng đất thích hợp, hình thành việc sử dụng đất đai một cách kinh tế, tập trung, thâm canh (Lương Văn Hinh và cs, 2003). Những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất Phạm vi, cơ cấu và phương thức sử dụng đất…vừa bị chi phối bởi các điều kiện và quy luật về sinh thái tự nhiên, vừa bị kiềm chế bời các điều kiện, quy luật kinh tế, xã hội và các yêu cầu kĩ thuật. Vì vậy những nhân tố và điều kiện ảnh hưởng đến việc sử dụng đất là: 6 a) Yếu tố điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên có rất nhiều yếu tố như: nhiệt độ, ánh sáng, không khí, thủy văn, lượng mưa…trong các yếu tố đó thì khí hậu là nhân tố hàng đầu của việc sử dụng đất đai, sau đó là là điều kiện đất đai chủ yếu là địa hình, thổ nhưỡng và các nhân tố khác - Điều kiện khí hậu: đây là nhóm yếu tố ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người. Thuộc tính ôn nhiều hay ít, nhiệt độ cao hay thấp, sự sai khác vê nhiệt độ, về thời gian và không gian, biên độ tối cao hay tối thấp giữa ngày và đêm… trực tiếp ảnh hưởng đến sự phân bố, sinh trưởng và phát triển cây trồng.
Lượng mưa nhiều hay ít, bốc hơi mạnh hay yếu có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ và độ ẩm của đất cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho các cây, con sinh trưởng, phát triển (Lương Văn Hinh và cs, 2003). - Điều kiện đất đai: sự khác nhau giữa địa hình, địa mạo, độ cao so với mực nước biển, độ dốc, hướng dốc… thường dẫn đến đất đai, khí hậu khác nhau, từ đó ảnh hưởng đến sản xuất và phân bố các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp. Địa hình và độ dốc ảnh hưởng đến phương thức sử dụng đất nông nghiệp, là căn cứ cho việc lựa chọn cơ cấu cây trồng, xây dựng đồng ruộng, thủy lợi canh tác và cơ giới hóa. Mỗi vùng địa lý khác nhau thì đều có sự khác nhau vè điều kiện ánh sang, nhiệt độ, nguồn nước và các điều kiện tự nhiên khác.
Các yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng, công dụng và hiệu quả sử dụng đất. Vì vậy cần tuân theo các quy luật của tự nhiên, tận dụng các lợi thế đó nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội, môi trường. b) Yếu tố kinh tế-xã hội Bao gồm các yếu tố như: chế độ xã hội, dân số và lao động, thông tin và quản lí, sức sản xuất phát triển của kinh tế hang hóa, cơ cấu kinh tế và phân bố sản xuất, các điều kiện về nông nghiệp, công nghiệp, giao thông, vận 7 tải, sự phát triển của khoa học kĩ thuật công nghệ, trình độ quản lí sử dụng lao động… “Yếu tố kinh tế xã- hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với việc sử dụng đất đai”( Lương Văn Hinh và cs,2003).Thực vậy, phương hướng sử dụng đất được quyết định bởi yêu cầu xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kì nhất định. Điều kiện tự nhiên của đất đai cho phép xác định khả năng thích ứng về phương thức sử dụng đất.
Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến việc sử dụng đất được đánh giá bằng hiệu quả sử dụng đất. Thực trạng sử dụng đất liên quan đến lợi ích kinh tế của người sở hữu, sử dụng và kinh doanh đất. Tuy nhiên nếu có chính sách ưu đãi sẽ tạo điện kiện cải tạo và hạn chế sử dụng đất theo kiểu bóc lột đất đai. Mặt khác sự quan tâm quá mức đến lợi nhuận tối đa cũng dẫn đến tình trạng đất đai không những bị sử dụng không hợp lí mà còn bị hủy hoại.
Như vậy các nhân tố điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế- xã hội tạo ra nhiều tổ hợp ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đai. Tuy nhiên mỗi yếu tố giữ vị trí và có tác động khác nhau. Vì vậy, cần dựa vào yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội trong lĩnh vực sử dụng đất đai để từ đó tìm ra những nhân tố thuận lợi và khó khăn để sử dụng đất đai đạt hiệu quả cao.2 Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng đất trồng rau hữu cơ theo tiêu chuẩn PGS 1.1 Khái quát hiệu quả sử dụng đất Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả. Trước đây, người ta thường quan niệm kết quả chính là hiệu quả.
Sau này, người ta nhận thấy rõ sự khác nhau giữa hiệu quả và kết quả. Nói một cách chung nhất thì hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của công việc mang lại. Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền 8 kinh tế quốc dân, gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế. Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới.
Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong muốn của nông dân - những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp.