Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Sản xuất nông nghiệp và hướng phát triển sản xuất trên thế giới và ở Việt Nam.1 Tổng quát về tình hình và những phương hướng phát triển sản xuất nông nghiệp trên thế giới 1. Tổng quát về tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp trên thế giới Nông nghiệp là một ngành sản xuất chiếm tỷ trọng không nhỏ trong cơ cấu kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới. Đặc biệt ở các nước đang phát triển, sản xuất nông nghiệp không chỉ đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cho con người mà còn tạo ra sản phẩm xuất khẩu, thu ngoại tệ cho quốc gia. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB) [26], tổng sản lượng lương thực sản xuất hiện tại chỉ đáp ứng nhu cầu cho khoảng 6 tỉ người trên thế giới, tuy nhiên sản lượng sản xuất ra có sự phân bổ không đồng đều giữa các vùng.
Hiện nay trên thế giới có khoảng 3,3 tỉ ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai thác được 1,5 tỉ ha; còn lại đa phần là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn. Qui mô đất nông nghiệp được phân bố như sau: châu Mỹ chiếm 35%, châu Á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, châu Đại Dương chiếm 6% [24]. Để đáp ứng được lương thực, thực phẩm cho con người trong hiện tại và tương lai, con đường duy nhất là thâm canh tăng năng suất cây trồng trong điều kiện hầu hết đất canh tác trong khu vực đều bị nghèo về độ phì, đòi hỏi phải bổ sung cho đất một lượng dinh dưỡng cần thiết qua con đường sử dụng phân bón. Hiện tượng suy thoái đất có liên quan chặt chẽ đến chất lượng đất và môi trường.
Báo cáo của Viện Tài nguyên thế giới [33], cho thấy gần 20% diện tích đất đai châu Á bị suy thoái do những hoạt động của con người. Trong đó hoạt động sản xuất nông nghiệp là một nguyên nhân không nhỏ làm suy thoái đất. Những phương hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới Theo Đường Hồng Dật (1995) [6], trên con đường phát triển nông nghiệp, mỗi nước đều chịu ảnh hưởng của các điều kiện khác nhau, nhưng phải giải quyết vấn đề chung sau: - Không ngừng nâng cao chất lượng nông sản, năng suất lao động trong nông nghiệp, nâng cao hiệu quả đầu tư; - Mức độ và phương thức đầu tư vốn, lao động, khoa học và quá trình phát triển nông nghiệp. Chiều hướng chung nhất là phấn đấu giảm lao động chân tay, đầu tư nhiều lao động trí óc, tăng cường hiệu quả của lao động quản lý và tổ chức; - Mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp và môi trường.
Từ những vấn đề chung trên, mỗi nước lại có chiến lược phát triển nông nghiệp khác nhau và có thể chia làm hai xu hướng: * Nông nghiệp công nghiệp hoá: Sử dụng nhiều thành tựu và kết quả của công nghiệp, sử dụng nhiều vật tư kỹ thuật, dùng trang thiết bị máy móc, sản xuất theo quy trình kỹ thuật chặt chẽ gần như công nghiệp, đạt năng suất cây trồng vật nuôi và năng suất lao động cao. Khoảng 10% lao động xã hội trực tiếp làm nông nghiệp nhưng vẫn đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu. Nông nghiệp công nghiệp hoá gây nên nhiều hậu quả sinh thái nghiêm trọng, gây ô nhiễm môi trường làm giảm tính đa dạng sinh học, làm hao hụt nguồn gen thiên nhiên [2]. * Nông nghiệp sinh thái: Đưa ra nhằm khắc phục những nhược điểm của nông nghiệp công nghiệp hoá, nông nghiệp sinh thái nhấn mạnh việc đảm bảo tuân thủ những nguyên tắc về sinh học trong nông nghiệp, với mục tiêu: Cải thiện chất lượng dinh dưỡng thức ăn; Nâng cao độ phì nhiêu của đất bằng phân bón hữu cơ, tăng chất mùn trong đất…; Hạn chế mọi dạng ô nhiễm môi trường với đất, nước, môi trường, thức ăn.
Gần đây nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu nền nông nghiệp bền vững, n 6 đó là một dạng của nông nghiệp sinh thái với mục tiêu sản xuất nông nghiệp đi đôi với giữ gìn bảo vệ môi trường đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững, lâu dài. Trong những năm qua, cùng với sự phát triển thành công về sản xuất nông nghiệp và tăng trưởng về mức sống, nhiều nước đã đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đa dạng hoá sản xuất. Như: Philipin năm 1987-1992 chính phủ đã có chiến lược chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đa dạng hoá cây trồng nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển; Thái Lan những năm 1982-1996 đã có những chính sách đầu tư phát triển nông nghiệp; Ấn Độ kể từ thập kỷ 80, khi sản xuất lương thực đã đủ đảm bảo an ninh lương thực thì các chính sách phát triển nông nghiệp của chính phủ cũng chuyển sang đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đa dạng hoá sản xuất, phát triển nhiều cây trồng ngoài lương thực.2 Tình hình sản xuất và sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn, khái niệm và đánh giá đất, phân hạng đất đã có từ lâu đời ở nước ta nhằm phục vụ cho việc quản lý đất đai và sản xuất. Trong thời kỳ phong kiến đã tiến hành phân hạng ruộng đất nhằm phục vụ chính sách quản điền và tô thuế.
Thời kỳ phong kiến, thực dân, để tiến hành thu thuế đất đai, đã có sự phân chia ruộng đất thành “tứ hạng điền, lục hạng thổ”. Sau tháng 7/1954 đất nước bị chia cắt, do vậy công trình nghiên cứu nói chung được thực hiện riêng lẻ trên từng miền. Các công trình nghiên cứu ở miền Bắc. - Năm 1963 “Các quá trình thổ nhưỡng ở miền Bắc Việt Nam” đã được V.Fridland, Lê Duy Thước thực hiện và công bố tại Maxcơva.
- Năm 1972 – 1974 Vũ Cao Thái, Bùi Quang Toàn đã tiến hành phân hạng đất cấp huyện và cấp xã tại huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình.Fridland cùng với các nhà khoa học Việt Nam: Vũ Ngọc Tuyên, Tôn Thất Chiểu, Đỗ ánh, Trần Vân Nam, Nguyễn Văn Dũng đã n 7 tiến hành khảo sát và xây dựng sơ đồ thổ những miền Bắc Viêt Nam (tỷ lệ 1:1000.000) xây dựng sơ đồ thổ những miền Bắc Việt Nam. - Ban biên tập bản đồ đất Việt đã biên soạn được bản đồ miền Bắc Việt Nam (tỷ lệ: 1:500.000) tổng kết quá trình điều tra từ cấp tỉnh, huyện và các nông trường và trạm trại (Cao Liêm, Đỗ Đình Thuận, Nguyễn Bá Nhuận).Fridland tập hợp các kết quả nghiên cứu đất Việt Nam trong cuốn “Đất và vỏ phong hoá nhiệt đới Việt Nam” được dịch ra tiếng việt năm 1973, đây được xem là tài liệu mô tả đầy đủ nhất về đặc điểm và qui mô của tài nguyên đất vùng đồng bằng sông Hồng. Vụ quản lý ruộng đất và Viện Thổ nhưỡng Nông hoá rồi sau đó là Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp đã có những công trình nghiên cứu và quy trình phân hạng đất vùng sản xuất nông nghiệp nhằm tăng cường công tác quản lý độ màu mỡ đất và xếp hạng thuế nông nghiệp. Dựa vào chỉ tiêu chính về điều kiện sinh thái và tính chất đất của từng vùng sinh thái nông nghiệm.
Đất đã được phân hạng thành 5-7 hạng theo phương pháp xếp điểm.2 Công tác nghiên cứu ở miền Nam. - Bản đồ đất tổng quát miền Nam Việt Nam (tỷ lệ 1:1000.Moorman thực hiện (1961) là tài liệu đầu tiên có tính tổng quát về nghiên cứu đặc điểm thổ nhưỡng ở phía Nam. - Năm 1972 những bản đồ ở qui mô tỉnh (tỷ lệ 1:1000.000) do sở địa học Sài Gòn ấn hành. Đồng thời những thuyết minh kèm theo trên từng vùng đất như “Đất đai miền châu thổ sông Cửu Long”, “Đất đai miền đông Nam bộ”.
đây được xem là tài liệu cơ bản đầu tiên cho đất ở miền Nam dùng cho việc quy hoạch sử dụng đất đai. - Năm 1974, đoàn chuyên gia Hà Lan đã xây dựng “bản đồ tài nguyên đất đai” ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đây là tài liệu đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu tài nguyên đất trong mối quan hệ tương hỗ với các yếu tố tự nhiên khác (khí hậu, thuỷ văn.) n 8 Những năm 1980 trở lại đây, các nghiên cứu về đánh giá khả năng sử dụng đất đai bắt đầu được tiến hành ở Việt Nam. Một số công trình sau đây đã đặt nền tảng cho công việc nghiên cứu đánh giá đất đai: - Đánh giá phân hạng đất khái quát toàn quốc (Tôn Thất Chiểu và nhóm nghiên cứu) thực hiện năm 1984 ở tỷ lệ bản đồ 1:500.000 trên cơ sở dựa vào nguyên tắc phân loại khả năng đất đai của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, chỉ tiêu sử dụng là đặc điểm thổ nhưỡng và địa hình, được phân công nhằm mục đích sử dụng đất đai tổng hợp, bao gồm 7 nhóm đất đai được phân lớp cho sản xuất nông nghiệp và các mục đích sử dụng khác.
- Trong nghiên cứu đánh giá và qui hoạch sử dụng đất khai hoang ở Việt Nam (Bùi Quang Toản và nhóm nghiên cứu, 1995) đã áp dụng và phân loại khả năng của FAO. Tuy nhiên, chỉ đánh giá các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, thuỷ văn, tưới tiêu, khí hậu nông nghiệp). Trong nghiên cứu này, hệ thống phân vị chỉ dừng lại ở lớp (class) thích hợp cho từng loại hình sử dụng đất. Các nhà khoa học đất với các nhà qui hoạch sử dụng đất, quản lý đất đai ở nước ta đã tiếp thu nhanh chóng tài liệu đánh giá đất đai của FAO, những kinh nghiệp của các chuyên gia đánh giá đất quốc tế để ứng dụng từng bước cho công tác đánh giá đất ở Việt Nam.
Ở đồng bằng sông Cửu Long một số nghiên cứu chuyên đề ở khu vực nhỏ đã bước đầu ứng dụng phương pháp đánh giá đất đai định lượng của FAO (Lê Quang Trí, 1989, Trần Kim Tính, 1986). Từ năm 1990 viện qui hoạch và thiết kế nông nghiệp đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu đánh giá đất trên phạm vi toàn quốc với 9 vùng sinh thái và nhiều vùng chuyên canh theo các dự án đầu tư. Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng (1994) với “Kết quả bước đầu đánh giá tài nguyên đất Việt Nam”. Nguyễn Công Pho (1995) với “Đánh giá đất vùng Đồng bằng Sông Hồng”, Nguyễn Khang, Nguyễn Văn Tân “Đánh giá đất vùng dự án đa mục tiêu E.Soup”, Nguyễn Chiến Thắng, Cẩn Tiển (1997) “Đánh giá đất tỉnh n 9 Bình Định”, Nguyễn Văn Nhân (1995) “Đánh giá khả năng và sử dụng đất vùng Đồng bằng Sông Cửu Long”.