Đặt vấn đề Ông cha ta có câu "Tấc đất tấc vàng". Từ xƣa đến nay, đất đai luôn là tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con ngƣời. Đất đai là tài sản mãi mãi với loài ngƣời, là điều kiện sinh tồn, là nền tảng của mọi quá trình hoạt động của con ngƣời, là điều kiện không thể thiếu đƣợc để sản xuất, là tƣ liệu sản xuất không thể thay thế đƣợc trong nông, lâm nghiệp. Bởi vậy, nếu không có đất đai thì không có bất kì một ngành sản xuất nào, con ngƣời không thể tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống đến ngày nay.
Đất là cơ sở của sản xuất nông nghiệp, là yếu tố đầu vào có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp, tạo ra lƣơng thực, thực phẩm nuôi dƣỡng sống con ngƣời. Việc sử dụng đất một cách có hiểu quả và bền vững đang trở thành vấn đề cấp thiết với mỗi quốc gia, nhằm duy trì sản xuất của đất đai cho hiên tại và cho tƣơng lai. Nông nghiệp là hoạt động cơ bản nhất của loài ngƣời. Hầu hết các nƣớc trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông thôn dựa vào khai thác tiềm năng của đất, lấy đất làm bàn đạp cho việc phát triển các ngành khác.
Xã hội phát triển trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng cao, con ngƣời tìm ra nhiều phƣơng thức sử dụng đất hiệu quả hơn. Vì vậy, cần tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất hợp lý, có hiệu quả cao theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành toàn cầu. Mục đích của việc sử dụng đất là làm thế nào để bắt nguồn tƣ liệu có hạn này mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả sinh thái, hiệu quả xã hội cao nhất, đảm bảo lợi ích trƣớc mắt và lâu dài. Nói cách khác, mục tiêu của loài ngƣời là phấn đấu xây dựng một nền nông nghiệp toàn diện về kinh tế, xã hội, môi trƣờng một cách bền vững, đồng thời đánh giá những yếu tố thuận lợi và khó khăn cho việc khai thác sử dụng đất.
Để thực hiện mục tiêu này cần bắt đầu từ nâng cao hiểu quả sử dụng đất trong nông nghiệp một cách toàn diện. Trong quá trình đang thay đổi cơ cấu sử dụng đất của cả nƣớc nói chung, tỉnh quảng ninh nói riêng, thị xã Quảng Yên cũng đang trong quá trình thay đổi cơ cấu n 2 sử dụng đất. Xã Liên Vị nằm ở cuối đảo hà nam, thuộc Thị Xã Quảng Yên, Tỉnh Quảng Ninh, với diện tích tự nhiên là 29,5946 km2, dân số trung bình là 9242 ngƣời, mật độ dân số là 308 ngƣời/km2, đất đai màu mỡ thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản nƣớc mặn lợ và nƣớc ngọt. Tuy nhiên, với những lợi thế trên nhƣng sản xuất nông nghiệp vẫn chƣa phát huy đƣợc hết thế mạnh, hệ thống cơ sở hạ tầng tuy đã đƣợc chú trong nâng cấp, cải tạo nhƣng chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu phát triển của tƣơng lai, sử dụng đất còn chƣa thật hợp lý, hiệu quả.
Do đó việc tiến hành đánh giá hiệu quả và định hƣớng sử dụng đất nông nghiệp nhằm phát hiện những lợi thế và trở ngại trong sản xuất nông nghiệp, đồng thời đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất thông qua sản xuất nông nghiệp cần thiết. Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn và nhu cầu sử dụng đất bền vững đƣợc sự đồng ý và giúp đỡ của Ban Giám Hiệu Nhà Trƣờng, Ban chủ nhiệm Khoa Quản Lý Tài Nguyên. Đặc Biệt dƣới sự hƣớng dẫn của cô giáo: TS. Vũ Thị Thanh Thủy, em tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và đề xuất giải pháp sử dụng đất bền vững trên địa bàn xã Liên Vị, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh".
Mục tiêu của nghiên cứu 1. Mục tiêu tổng quát Đánh giá thực trạng, hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và tìm ra các loại hình sử dụng đất có hiệu quả cao trên địa bàn xã Liên Vị. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá các loại thực trạng sử dụng đất: xác định các loại hình sử dụng đất, phân hạng các loại hình sử dụng đất. - Đánh giá hiệu quả sử dụng đấtsản xuất nông nghiệp: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xá hội, hiệu quả môi trƣờng.
- Các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp: vị trí địa lý, địa hình khí hậu, thủy văn,… n 3 - Đề xuất các giải pháp: thị trƣờng, vốn đầu tƣ, nguồn nhân lực,… và định hƣớng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Giúp cho ngƣời học nghiên cứu củng cố lại những kiến thức đã học, biết cách thực hiện một đề tài khoa học và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. - Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập số liệu và sử lí thông tin của sinh viên trong quá trình làm đề tài.
- Nắm chắc đƣợc hiện trạng sử dụng đất, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để áp dụng vào thực tế. Ý nghĩa thực tiễn - Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp bền vững. - Đánh giá đƣợc thực trạng sử dụng đất, xác định những tồn tại chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, nguyên nhân và giải pháp khắc phục cho Xã Liên Vị trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn này. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở lý luận của đề tài 2. Khái niệm và quá trình hình thành đất Khái niệm về đất Đất là một phần của vỏ trái đất, là lớp phủ của lục địa mà bên dƣới nó là đá và khoáng sinh ra nó, bên trên là thảm thực bì và khí quyển. Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng sinh ra sản phẩm của cây trồng.
Đất là lớp phủ thổ nhƣỡng là thổ quyển, là vật thể tự nhiên. Mà nguồn gốc của vật thể tự nhiên đó là do hợp điểm của 4 thể tự nhiên khác: sinh quyển, khí quyển, thủy quyển và thạch quyển, Nguyễn Ngọc Nông (2008) [14]. Theo Đôcutraiep (1846 - 1903) nhà bác học ngƣời Nga đƣa ra định nghĩa: “Đất là một vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả quá trình hoạt động của 5 yếu tố hình thành đất đó là: sinh vật, đá mẹ, địa hình, khí hậu và thời gian”. Sau này ngƣời ta bổ sung thêm yếu tố thứ sáu đó là con ngƣời, Nguyễn Thế Đặng và cs (1999) [13].
Theo quan điểm sinh thái đất đƣợc định nghĩa: Đất là vật mang của hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nông nghiệp. Các nhà kinh tế, quy hoạch và thổ nhƣỡng Việt Nam cho rằng: Đất đai là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc đƣợc và đất đai đƣơc hiểu theo nghĩa rộng nhƣ sau: Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm các cấu thành của môi trƣờng sinh thái ngay bên trên và bên dƣới mặt đó bao gồm: khí hậu, thời tiết, thổ nhƣỡng, địa hình, mặt nƣớc (hồ, sông, suối,…) các dạng trầm tích sát bề mặt cùng với nƣớc ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật, trạng thái định cƣ của con ngƣời trong quá khứ và hiện tại để lại. n 5 Tại hội nghị quốc tế về Môi trƣờng ở Rio De Janerio, Brazil (1993), thì đất đai về thuật ngữ khoa học đƣợc hiểu theo nghĩa rộng thì xác định đất đai là: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trƣờng sinh thái ngay trên và dƣới bề mặt đó nhƣ: khí hậu bề mặt, thổ nhƣỡng, dạng địa hình, mặt nƣớc, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nƣớc ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cƣ của con ngƣời, những kết quả của con ngƣời trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nƣớc hay hệ thống tiêu thoát nƣớc, đƣờng sá, nhà cửa…)”. Từ các định nghĩa trên ta có thể hiểu: Đất đai là một vùng đất có vị trí cụ thể, có ranh giới và có những thuộc tính tổng hợp của các yếu tố tự nhiên (khí hậu, địa hình, địa chất/địa mạo, thổ nhƣỡng, thủy văn, động thực vật…), kinh tế - xã hội và các hoạt động sản xuất của con ngƣời.
Quá trình hình thành đất Quá trình quá trình Đá mẹ Mẫu chất Đất Phong hóa hình thành đất Hình 2. Sơ đồ quá trình hình thành đất Đá mẹ dƣới tác dụng của các yếu tố ngoại cảnh bị phá hủy tạo thành mẫu chất, mẫu chất chƣa phải là đất vì còn thiếu một hợp phần vô cùng quan trọng là chất hữu cơ. Trƣớc khi có sinh vật, trái đất lúc đó chỉ bao gồm lớp vỏ toàn đá. Dƣới tác dụng của mƣa, các sản phẩm vỡ vụn của đá bị trôi xuống nơi thấp hơn và lắng đọng ở đó hoặc ở ngoài đại dƣơng.
Sự vận động của vỏ trái đất có thể làm nổi những vùng đá trầm tích đó lên và lại tiếp tục chu trình nhƣ trên ngƣời ta gọi đó là Đại tuần hoàn địa chất. Đây là một quá trình tạo lập đá đơn thuần và xảy ra theo một chu trình khép kín và rộng khắp. Khi trên trái đất xuất hiện sinh vật, sinh vật đã hút chất dinh dƣỡng từ những mẫu chất do đã vỡ vụn ra để sinh sống và khi chết đi tạo lên một lƣợng chất n 6 hữu cơ. Cứ nhƣ vậy sinh vật ngày càng phát triển và lƣợng chất hữu cơ ngày càng nhiều, nó đã biến mẫu chất thành đất.
Ngƣời ta gọi đó là tiểu tuần hoàn sinh vật. "Sự thống nhất giữa Đại tuần hoàn địa chất và Tiểu tuần hoàn sinh vật đã tạo ra đất và đó cũng chính là bản chất của quá trình hình thành đất". LUT theo FAO, loại hình sử dụng đất (LUT - Land Use Type) là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng đất với những phƣơng thức quản lý sản xuất trong các điều kiện kinh tế - xã hội và kỹ thuật đƣợc xác định, Nguyễn Thế Đặng và cs (1999) [13].