Tổng quan luận án

Bệnh lý sỏi hệ tiết niệu, đặc biệt là sỏi thận, chiếm tỷ lệ cao nhất trong các loại sỏi đường tiết niệu. Trong đó, sỏi thận nhiều viên và sỏi san hô phức tạp là nhóm bệnh lý khó khăn trong điều trị ngoại khoa. Tại các nước phát triển, phẫu thuật mở lấy sỏi thận hiện chỉ còn chiếm dưới 10% tổng số can thiệp do sự phát triển của các kỹ thuật ít xâm lấn. Tuy nhiên, tại Việt Nam, bệnh nhân thường đến viện ở giai đoạn muộn với sỏi có kích thước lớn, phân bố phức tạp ở nhiều đài thận, khiến phẫu thuật mở vẫn giữ một vị trí nhất định trong thực hành lâm sàng.

Vấn đề lớn nhất của phẫu thuật mở kinh điển trong điều trị sỏi thận nhiều viên là nguy cơ chảy máu do phải rạch nhu mô thận hoặc làm rách cổ đài khi cố gắng tiếp cận sỏi ở các đài sâu, cùng tỷ lệ sót sỏi sau mổ còn cao (dao động từ 10% đến 40%, theo các công bố của Trần Văn Hinh và Hoàng Mạnh An tỷ lệ này lên tới 47,22% ở nhóm sỏi san hô và nhiều viên). Các phương pháp ít sang chấn khác khi áp dụng cho sỏi phức tạp cũng ghi nhận tỷ lệ sót sỏi đáng kể (tán sỏi ngoài cơ thể sót khoảng 53,5%, lấy sỏi qua da sót khoảng 33%).

Để giải quyết tình trạng sót sỏi mà không phải rạch rộng nhu mô thận gây mất máu và suy giảm chức năng thận, kỹ thuật nội soi thận bằng ống soi mềm kết hợp tán sỏi bằng năng lượng Laser Holmium trong mổ mở đã được nghiên cứu và ứng dụng. Việc đưa ống soi mềm qua chính đường mở bể thận cho phép phẫu thuật viên quan sát trực tiếp lòng các đài thận, tiếp cận và tán vụn hoặc gắp các viên sỏi còn lại.

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Nguyễn Duy Thịnh với đề tài "Đánh giá kết quả phẫu thuật mở bể thận có nội soi hỗ trợ điều trị sỏi thận nhiều viên" được thực hiện nhằm giải quyết 2 mục tiêu cụ thể:

  1. Đánh giá kết quả phẫu thuật mở bể thận có nội soi hỗ trợ điều trị sỏi thận nhiều viên tại Bệnh viện Thanh Nhàn.
  2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kết quả phẫu thuật mở bể thận có nội soi hỗ trợ điều trị sỏi thận nhiều viên tại Bệnh viện Thanh Nhàn.

Nghiên cứu được tiến hành trên 55 bệnh nhân (tương ứng với 56 lần phẫu thuật / 56 đơn vị thận do có 1 trường hợp mổ cả hai bên) được chẩn đoán sỏi thận nhiều viên và điều trị tại Bệnh viện Thanh Nhàn, Hà Nội trong khoảng thời gian từ tháng 3 năm 2012 đến tháng 7 năm 2017.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan y văn trong luận án hệ thống hóa các nền tảng giải phẫu học, các phân loại bệnh học, các phương pháp phẫu thuật và các kỹ thuật hỗ trợ kiểm soát sỏi:

  • Đặc điểm giải phẫu thận và mạch máu: Tác giả trích dẫn các tài liệu giải phẫu kinh điển của Netter F. (2007), Trịnh Xuân Đàn (1999) về hình thể thận (kích thước trung bình 12 x 6 x 3 cm, nặng khoảng 130 gam, nhu mô dày 1,5 - 1,8 cm). Hệ thống đài thận gồm 10-13 đài nhỏ hợp lưu thành các nhóm đài trên, giữa, dưới. Động mạch thận bắt nguồn từ động mạch chủ bụng ngang mức L1-L2 (98%), chia thành 2 ngành trước và sau bể ở 70 - 80% trường hợp cách rốn thận 1-3 cm. Động mạch trước bể tỏa nhánh che phủ mặt trước bể thận (64,6%), nhánh cho phân thùy dưới bắt chéo mặt trước rốn thận (62,2%), khiến phẫu thuật vào mặt trước thận có nguy cơ chảy máu cao. Động mạch sau bể đi theo bờ trên bể thận rồi đổi hướng xuống dưới chi phối phân thùy sau, thường để trống vùng góc sau dưới rốn thận, tạo điều kiện thuận lợi cho đường mở mặt sau bể thận.
  • Phân loại sỏi thận theo Rocco F. (1984): Phân chia thành 5 mức độ: C1 (sỏi bể thận đơn thuần), C2 (sỏi bể thận kèm sỏi nhỏ trong các đài), C3 (sỏi borderline - sỏi bể thận có 1 nhánh vào đài), C4 (sỏi bể thận có 2 nhánh vào đài gồm nhánh đài dưới và đài giữa/trên), C5 (sỏi đúc khuôn cả 3 nhóm đài).
  • Các đường mở bể thận kinh điển: Đường mở mặt trước theo Cifuentes (vén mạch máu bộc lộ bể thận), đường mở mặt sau (dọc hoặc ngang), đường mở trong xoang có vén rốn thận của Gil-Vernet (1983), và đường Gil-Vernet cải tiến của Nguyễn Bửu Triều (1984) mở rộng vào nhu mô mặt sau cực dưới theo vùng vô mạch giữa phân thùy S3'-S4'.
  • Các nghiên cứu kiểm soát sót sỏi trong mổ: Luận án điểm lại các kỹ thuật:
    • X-quang trong mổ: Ono Y. và cộng sự (1985) ghi nhận tỷ lệ sót sỏi 19,4% khi dùng X-quang kiểm tra.
    • Siêu âm trong mổ: Sigel B. (1982), Riedmiller H. (1987) dùng siêu âm Doppler định vị sỏi và mạch máu nhu mô.
    • So sánh các phương pháp: Nghiên cứu của Trần Văn Hinh và cộng sự (2011) trên 103 bệnh nhân sỏi san hô và nhiều viên cho thấy tỷ lệ sót sỏi ở nhóm chứng là 47,22%, nhóm dùng C-arm là 15,15%, nhóm dùng siêu âm là 42,10%, và nhóm dùng nội soi trong mổ là 46,7%.
  • Ứng dụng ống soi mềm và Laser Holmium: Marshall V.F. (1964) lần đầu dùng ống soi mềm quan sát niệu quản - bể thận. Takayasu H. (1971) phát triển ống soi có đầu uốn gập chủ động. Các tác giả Unsal A. và cs (2004) đạt tỷ lệ sạch sỏi 88% khi tán sỏi qua đường mở bể thận; Traxel O. và cs (2010) đạt 88,2% khi dùng ống soi mềm kết hợp Laser Holmium trên thận móng ngựa. Laser Holmium:YAG (bước sóng 2140 nm, độ rộng xung 250-350 µs) phát huy hiệu quả tán vụn sỏi nhờ cơ chế nhiệt quang học bốc hơi nước nội tại, mức năng lượng an toàn trong điều trị được Nazif O. (1998) khuyến cáo dưới 1J, tần số 10-15 Hz.

Vị trí của luận án: Luận án tập trung giải quyết khoảng trống thực hành lâm sàng tại Việt Nam: xác lập quy trình kỹ thuật, đánh giá hiệu quả sạch sỏi và độ an toàn của việc kết hợp trực tiếp ống soi mềm và tán sỏi Laser Holmium qua đường mở bể thận đơn thuần trong mổ mở, hạn chế tối đa việc phải rạch thêm nhu mô thận.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu

  • Thiết kế: Nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt dọc theo dõi trước mổ, trong mổ và sau mổ tại các thời điểm: khi ra viện, sau 1 tháng và sau 3 tháng.
  • Công thức tính cỡ mẫu: Cỡ mẫu xác định theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể:

$$n = \frac{Z_{1-\alpha/2}^2 \cdot p(1-p)}{d^2}$$

Trong đó:

  • Mức ý nghĩa thống kê $\alpha = 0,05 \Rightarrow Z_{1-\alpha/2} = 1,96$.
  • Tỷ lệ thành công ước đoán $p = 0,88$ (dựa trên nghiên cứu của Unsal A. 2004 và Traxel O. 2010).
  • Sai số cho phép $d = 0,1$ (10%).

Kết quả tính toán:

$$n = \frac{(1,96)^2 \times 0,88 \times (1 - 0,88)}{(0,1)^2} = 40,56 \approx 41 \text{ trường hợp}$$

Nghiên cứu thực tế thu thập được 55 bệnh nhân (56 lần phẫu thuật / 56 đơn vị thận), vượt cỡ mẫu tối thiểu yêu cầu.

Tiêu chuẩn chọn bệnh và loại trừ

  • Tiêu chuẩn chọn bệnh:
    • Chẩn đoán xác định sỏi thận nhiều viên: có 1 viên sỏi ở bể thận kết hợp ít nhất 2 viên sỏi ở các đài thận.
    • Được chỉ định và thực hiện mổ mở lấy sỏi bể thận.
    • Sử dụng ống soi mềm để kiểm soát và xử lý sỏi đài thận trong cùng cuộc mổ.
    • Bệnh nhân tự nguyện tham gia nghiên cứu, đầy đủ hồ sơ bệnh án.
  • Tiêu chuẩn loại trừ:
    • Thận ứ nước nặng, nhu mô thận giãn mỏng mất chức năng.
    • Sỏi không cản quang trên phim X-quang hệ tiết niệu.
    • Bệnh nhân phải rạch nhu mô thận kết hợp để lấy sỏi.
    • Nội soi trong mổ không phát hiện thấy sỏi còn lại.

Trang thiết bị và quy trình kỹ thuật can thiệp

  • Trang thiết bị sử dụng:
    • Ống soi mềm: Olympus CYF-4 kích thước 10 Fr, đầu uốn cong linh hoạt.
    • Hệ thống máy tán sỏi Laser: Holmium Sphinx JR công suất 30W (hãng Lisa - Đức).
    • Dây dẫn tia Laser: Đường kính 272 µm.
    • Dụng cụ phụ trợ: Rọ gắp sỏi Dormia, dung dịch nước muối sinh lý $0,9%$ làm ấm ở nhiệt độ $37^\circ\text{C}$ để bơm rửa.
  • Quy trình kỹ thuật:
    1. Bộc lộ thận qua đường mổ sau phúc mạc, phẫu tích bộc lộ mặt sau bể thận theo kỹ thuật Gil-Vernet hoặc mở dọc/ngang bể thận.
    2. Mở bể thận, dùng kẹp lấy viên sỏi chính tại bể thận ra ngoài.
    3. Bơm rửa sơ bộ qua vết mở bể thận để đẩy các viên sỏi đài ra ngoài nếu có thể.
    4. Đưa ống soi mềm 10 Fr qua vết rạch bể thận lần lượt vào các nhóm đài trên, đài giữa và đài dưới.
    5. Quan sát xác định số lượng, vị trí, kích thước sỏi đài.
    6. Xử lý sỏi: Với sỏi nhỏ thì dùng rọ Dormia gắp ra; với sỏi kích thước lớn hơn hoặc kẹt cổ đài thì luồn dây dẫn Laser 272 µm qua kênh thao tác, cài đặt năng lượng 0,6 - 1,0 J và tần số 10 - 15 Hz để tán vụn sỏi (< 4 mm), sau đó bơm rửa sạch vụn sỏi.
    7. Kiểm tra lại toàn bộ các đài thận trước khi đóng bể thận bằng chỉ tiêu chậm, đặt dẫn lưu hố thận.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật toàn diện cơ sở giải phẫu học của thận liên quan đến ngoại khoa, tập trung vào hình thể xoang thận, phân bố mạng lưới mạch máu (động mạch trước bể, động mạch sau bể và các nhánh phân thùy), cấu trúc hệ thống đài bể thận và góc đài bể thận dưới. Tác giả phân tích các hệ thống phân loại sỏi (trọng tâm là phân loại Rocco F.), đánh giá ưu nhược điểm của các phương pháp điều trị sỏi hiện hành (tán sỏi ngoài cơ thể, lấy sỏi qua da PCNL, phẫu thuật mở).

Chương 1 cũng phân tích chi tiết các kỹ thuật mổ mở mở bể thận (Cifuentes, Gil-Vernet, Gil-Vernet cải tiến của Nguyễn Bửu Triều), các nghiên cứu ứng dụng phương tiện chẩn đoán hình ảnh kiểm soát sỏi trong mổ (X-quang, siêu âm, nội soi), lịch sử phát triển của ống soi mềm và nguyên lý tán sỏi bằng Laser Holmium:YAG.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết tiêu chuẩn chọn bệnh, tiêu chuẩn loại trừ trên 55 bệnh nhân (56 thận) tại Bệnh viện Thanh Nhàn giai đoạn 2012-2017; công thức và quá trình tính cỡ mẫu nghiên cứu ($n \ge 41$).

Tác giả mô tả chi tiết quy trình thu thập các biến số lâm sàng (tuổi, giới tính, thời gian mắc bệnh, tiền sử mổ sỏi, chỉ số BMI, bệnh lý kết hợp), biến số cận lâm sàng (Ure, Creatinin, mức lọc cầu thận theo KDIGO, xét nghiệm nước tiểu, X-quang KUB, UIV, CLVT, siêu âm đánh giá độ dày nhu mô và góc đài bể thận dưới). Mô tả quy trình phẫu thuật mở bể thận phối hợp ống soi mềm Olympus CYF-4 10Fr, máy Laser Sphinx JR 30W và rọ Dormia, các nguyên tắc đạo đức nghiên cứu y sinh học và phương pháp phân tích, xử lý số liệu.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các số liệu thực chứng thu thập được trong quá trình nghiên cứu:

Nhóm chỉ số Các biến số và nội dung đánh giá chính
Đặc điểm chung & Lâm sàng Phân bố tuổi, giới tính, BMI, lý do vào viện, thời gian mắc bệnh, bệnh lý toàn thân kết hợp, tiền sử phẫu thuật sỏi tiết niệu.
Cận lâm sàng trước mổ Nồng độ Ure, Creatinin huyết thanh, độ thanh thải Creatinin ($Cl_{cr}$), phân độ suy thận theo KDIGO, cặn lắng và vi khuẩn niệu; mức độ ứ nước thận và độ dày nhu mô trên siêu âm; hình thái đài bể thận, vị trí sỏi, phân loại sỏi theo Rocco F., góc bể thận - đài dưới trên UIV và CLVT.
Diễn biến & Kết quả phẫu thuật Phương pháp mở bể thận, kết quả lấy sỏi bể thận, kết quả đưa ống soi mềm vào các nhóm đài, tỷ lệ nong cổ đài, số lượng sỏi phát hiện qua nội soi, phương pháp xử lý sỏi (bơm rửa, rọ Dormia, tán sỏi Laser), thời gian tán sỏi Laser Holmium.
Tai biến & Biến chứng Mức độ chảy máu trong mổ, các tai biến trong mổ (rách bể thận, rách cổ đài), màu sắc nước tiểu sau mổ, biến chứng sớm (chảy máu, nhiễm khuẩn niệu, rò nước tiểu), thời gian lưu và rút dẫn lưu hố thận, thời gian nằm viện sau mổ.
Theo dõi sau mổ (1 & 3 tháng) Tỷ lệ sạch sỏi, tỷ lệ và vị trí sỏi sót, kích thước sỏi sót, các can thiệp bổ sung (tán sỏi ngoài cơ thể); mức độ hồi phục chức năng thận, mức độ ứ nước trên siêu âm tại thời điểm 1 tháng và 3 tháng sau mổ.

Chương 4: Bàn luận

Chương bàn luận tập trung vào 3 nhóm vấn đề trọng tâm:

  1. Chỉ định và kết quả phẫu thuật: Phân tích giá trị của nội soi ống mềm trong việc làm tăng tỷ lệ sạch sỏi trong mổ mở, giảm thiểu sự cần thiết của việc rạch rộng nhu mô thận, từ đó bảo tồn chức năng thận tốt hơn so với mổ mở kinh điển.
  2. Các yếu tố ảnh hưởng và nguyên nhân thất bại: Bàn luận chi tiết về ảnh hưởng của hình thái bể thận (bể thận trong xoang hay ngoài xoang), số lượng và kích thước sỏi đài, đặc điểm cổ đài (hẹp cổ đài, đài dài), đặc biệt là góc bể thận - đài dưới ($< 45^\circ$ gây khó khăn cho việc gập đầu ống soi mềm tiếp cận đài dưới). Phân tích tình trạng chảy máu làm đục môi trường quan sát là nguyên nhân gây cản trở phẫu trường nội soi.
  3. Tai biến và biến chứng: So sánh tỷ lệ chảy máu, nhiễm khuẩn, tổn thương đường bài xuất và thời gian hậu phẫu với các nghiên cứu trong nước và quốc tế.

Kết quả và những đóng góp mới

Kết quả chính và đóng góp mới của luận án

  • Về mặt khoa học: Luận án cung cấp các bằng chứng lâm sàng có hệ thống về hiệu quả của việc kết hợp nội soi ống mềm và tán sỏi Laser Holmium qua đường mở bể thận đơn thuần trong mổ mở điều trị sỏi thận nhiều viên. Phương pháp này giúp mở rộng tầm nhìn của phẫu thuật viên vào toàn bộ hệ thống đài thận mà không cần rạch nhu mô thận.
  • Về mặt thực tiễn ngoại khoa:
    • Chứng minh tính khả thi của kỹ thuật: tiếp cận trực tiếp, gắp hoặc tán vụn sỏi ở các nhóm đài khó tiếp cận bằng dụng cụ mổ mở thông thường.
    • Hạn chế tối đa sang chấn nhu mô thận và mạch máu trong xoang thận, giảm thiểu nguy cơ chảy máu ồ ạt trong mổ và bảo tồn chức năng bài tiết của thận sau phẫu thuật.
    • Xác định rõ các yếu tố tiên lượng khó khăn khi thực hiện nội soi ống mềm trong mổ mở: góc đài dưới - bể thận nhọn ($< 45^\circ$), cổ đài hẹp, và chảy máu niêm mạc đài bể thận trong quá trình thao tác.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ nghiên cứu

  • Ứng dụng kỹ thuật nội soi ống mềm hỗ trợ trong mổ mở lấy sỏi thận nhiều viên tại các cơ sở ngoại khoa có trang bị hệ thống ống soi mềm và máy tán sỏi Laser.
  • Đánh giá kỹ lưỡng các thông số giải phẫu trên phim chụp cắt lớp vi tính (CLVT) và UIV trước mổ (đặc biệt là góc bể thận - đài dưới, chiều dài và đường kính cổ đài) để tiên lượng và chuẩn bị phương án xử lý thích hợp.
  • Duy trì hệ thống bơm rửa liên tục bằng dung dịch nước muối sinh lý $0,9%$ ấm ($37^\circ\text{C}$) với áp lực vừa phải nhằm giữ quang trường rõ nét, đồng thời thao tác nhẹ nhàng tránh làm rách niêm mạc gây chảy máu che khuất tầm nhìn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại một trung tâm y tế (Bệnh viện Thanh Nhàn) trên cỡ mẫu 55 bệnh nhân (56 đơn vị thận). Đối tượng nghiên cứu chỉ giới hạn ở nhóm sỏi thận nhiều viên có chỉ định mổ mở bể thận đơn thuần và loại trừ các trường hợp thận ứ nước nặng nhu mô giãn mỏng hoặc sỏi không cản quang.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng nghiên cứu trên cỡ mẫu lớn hơn tại nhiều trung tâm ngoại khoa.
    • Theo dõi dài hạn hơn về sự biến đổi chức năng thận và tỷ lệ tái phát sỏi sau nhiều năm.
    • Nghiên cứu ứng dụng ống soi mềm kết hợp trong phẫu thuật nội soi sau phúc mạc lấy sỏi thận nhiều viên.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:

  • Bác sĩ chuyên khoa Ngoại Tiết niệu: Tham khảo quy trình kỹ thuật chi tiết về việc sử dụng ống soi mềm và Laser Holmium qua vết mở bể thận, các thông số cài đặt năng lượng Laser an toàn, kỹ thuật gắp và tán sỏi trong đài thận.
  • Học viên sau đại học, Bác sĩ nội trú, Nghiên cứu sinh: Cung cấp tài liệu tổng quan hệ thống về giải phẫu đài bể thận, phân bố mạch máu rốn thận, các phân loại sỏi thận (đặc biệt là phân loại Rocco F.) và phương pháp luận thiết kế nghiên cứu lâm sàng can thiệp ngoại khoa.
  • Các nhà quản lý y tế và phẫu thuật viên tuyến cơ sở: Cơ sở dữ liệu thực tiễn để cân nhắc chỉ định phối hợp kỹ thuật ít xâm lấn trong mổ mở nhằm nâng cao tỷ lệ làm sạch sỏi tại các bệnh viện đa khoa.

Câu hỏi thường gặp

1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân vào nghiên cứu của luận án là gì?

Bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu phải thỏa mãn các tiêu chuẩn: được chẩn đoán xác định sỏi thận nhiều viên (gồm 1 viên sỏi ở bể thận kết hợp ít nhất 2 viên sỏi ở các đài thận); có chỉ định mổ mở lấy sỏi bể thận; có sử dụng ống soi mềm kiểm soát và xử lý sỏi trong cùng cuộc mổ; đồng ý tham gia nghiên cứu và có đầy đủ hồ sơ bệnh án theo dõi.

2. Các trang thiết bị nội soi và tán sỏi chính được sử dụng trong luận án gồm những gì?

Tác giả sử dụng ống soi mềm Olympus CYF-4 kích thước 10 Fr, hệ thống máy tán sỏi Laser Holmium Sphinx JR công suất 30W (hãng Lisa - Đức), dây dẫn quang phát tia Laser đường kính 272 µm, cùng rọ Dormia để gắp sỏi và dung dịch nước muối sinh lý $0,9%$ giữ ấm ở $37^\circ\text{C}$ để bơm rửa.

3. Những yếu tố giải phẫu nào gây khó khăn nhất cho việc nội soi ống mềm lấy sỏi đài thận?

Các yếu tố giải phẫu gây khó khăn hoặc dẫn đến thất bại khi nội soi ống mềm trong mổ gồm: góc hợp bởi đài dưới và bể thận quá nhọn ($< 45^\circ$) khiến ống soi khó gập sâu; cổ đài thận bị hẹp hoặc quá dài; và tình trạng bể thận nằm sâu trong xoang thận kèm viêm dính, dễ chảy máu khi thao tác làm mất tầm nhìn của ống soi.

4. Tại sao phương pháp mở bể thận kết hợp ống soi mềm lại giúp bảo tồn nhu mô thận tốt hơn mổ mở kinh điển?

Trong mổ mở kinh điển điều trị sỏi nhiều viên, để lấy các viên sỏi nằm sâu trong đài thận, phẫu thuật viên thường phải rạch nhu mô thận, gây nguy cơ chảy máu nặng và để lại sẹo xơ làm mất một phần chức năng thận. Việc luồn ống soi mềm qua vết rạch bể thận có sẵn cho phép tiếp cận trực tiếp các đài thận để gắp hoặc tán sỏi bằng Laser mà không cần rạch thêm bất kỳ đường nào trên nhu mô thận.

5. Hệ thống phân loại sỏi theo Rocco F. được tác giả mô tả như thế nào?

Phân loại Rocco F. chia sỏi thận thành 5 mức độ: C1 (sỏi bể thận đơn thuần), C2 (sỏi bể thận kèm các sỏi nhỏ trong đài), C3 (sỏi borderline - sỏi bể thận có 1 nhánh vào đài), C4 (sỏi bể thận có 2 nhánh vào đài, gồm 1 nhánh đài dưới và 1 nhánh đài giữa hoặc đài trên), C5 (sỏi đúc khuôn toàn bộ 3 nhóm đài thận).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Duy Thịnh đã nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nội soi ống mềm kết hợp Laser Holmium hỗ trợ trong phẫu thuật mở bể thận điều trị sỏi thận nhiều viên trên 55 bệnh nhân (56 đơn vị thận) tại Bệnh viện Thanh Nhàn. Công trình đã làm rõ quy trình kỹ thuật, khẳng định khả năng làm sạch sỏi đài thận qua đường mở bể thận đơn thuần mà không cần rạch nhu mô thận, giúp hạn chế chảy máu và bảo tồn chức năng thận. Đồng thời, nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố giải phẫu ảnh hưởng đến kết quả can thiệp như góc bể thận - đài dưới, hẹp cổ đài và mức độ chảy máu trong mổ, mang lại giá trị thực tiễn cho chuyên ngành Ngoại Tiết niệu.