CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VÀ MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN THEO PHƯƠNG PHÁP DEA 1. Cơ sở lý luận hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần 1. Ngân hàng thương mại Điều 4, Luật Các tổ chức tín dụng ngày 16/06/2010 định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh tiền tệ và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan, bao gồm: Huy động vốn, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán và các hoạt động kinh doanh khác như: dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ ủy thác, dịch vụ môi giới tiền tệ, dịch vụ kinh doanh ngoại hối, quản lý tài sản, tư vấn tài chính… Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt và tồn tại dưới nhiều loại hình khác nhau như: Ngân hàng thương mại Nhà nước, ngân hàng thương mại liên doanh, ngân hàng thương mại cổ phần… Đề tài đề cập đến ngân hàng thương mại cổ phần là các ngân hàng do cổ đông (tổ chức và cá nhân) góp vốn.
Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Hiệu quả là một thuật ngữ thông dụng sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, chính trị, xã hội… Trong lĩnh vực kinh tế, theo định nghĩa trong tác phẩm “Từ điển kinh tế học” của tác giả Nguyễn Văn Ngọc: “Hiệu quả là mối quan hệ giữa đầu vào nhân tố khan hiếm và sản lượng hàng hóa và dịch vụ” và “khái niệm hiệu quả còn được dùng làm tiêu chuẩn để đánh giá xem thị trường phân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 bổ nguồn lực tốt đến mức nào”.Vì các nhân tố đầu vào hay các nguồn lực là khan hiếm nên việc phân bổ nguồn lực như thế nào là một vấn đề sống còn của bất kỳ một quốc gia, tổ chức. Vì vậy, có thể hiểu hiệu quả là mức độ thành công mà các tổ chức đạt được trong việc phân bổ các yếu tố đầu vào có thể sử dụng để sản xuất ra các đầu ra nhằm đạt được một mục tiêu nào đó. Nguồn lực đầu vào của một doanh nghiệp là các yếu tố đầu vào sản xuất như vốn, lao động, kỹ thuật. Đầu ra là kết quả kinh tế như sản phẩm, doanh thu, lợi nhuận… Như vậy, hiệu quả phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu xác định.
Nói cách khác, đó là khả năng biến các yếu tố đầu vào thành các đầu ra trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nó cho biết những lợi ích đạt được từ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở so sánh kết quả kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Trên phương diện khác, Farrell (1957) cho rằng hiệu quả của doanh nghiệp gồm hai thành phần: hiệu quả kỹ thuật TE và hiệu quả phân bổ. Hiệu quả kỹ thuật phản ánh khả năng doanh nghiệp đạt được đầu ra tối đa từ đầu vào cho trước (họặc khả năng doanh nghiệp sử dụng đầu vào tối thiểu để đạt được các đầu ra cho trước).
Hiệu quả phân bổ phản ánh khả năng của doanh nghiệp sử dụng đầu vào theo tỷ lệ tối ưu với mức giá tương ứng của chúng đã biết. Hiệu quả mà đề tài tập trung nghiên cứu là hiệu quả kỹ thuật của các NHTMCP, nó phản ánh khả năng của một ngân hàng biến các nguồn lực đầu vào (lao động, kỹ thuật, vốn…) thành các đầu ra (dịch vụ, tiền vay, thu nhập, lợi nhuận…). Hiệu quả hoạt động của các NHTMCP có thể chia làm hai nhóm là hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tuyệt đối được đo bằng kết quả kinh tế trừ đi chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Đặc điểm của chỉ tiêu tuyệt đối là phản ánh quy mô, khối lượng của một hiện tượng trong điều kiện, thời gian và địa điểm cụ thể. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các chỉ tiêu này lại khó có thể so sánh được. Chẳng hạn như nếu một ngân hàng có quy mô lớn thì hiệu số tuyệt đối giữa doanh thu đạt được trừ chi phí rất lớn nhưng chưa thể đánh giá ngân hàng này hoạt động hiệu quả hơn ngân hàng khác có quy mô nhỏ hơn và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 hiệu số tuyệt đối giữa doanh thu đạt được và chi phí nhỏ hơn. Do vậy, chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối không cho biết khả năng sử dụng tiết kiệm hay lãng phí các yếu tố đầu vào.
Cách đánh giá hiệu quả tương đối xem xét tỷ lệ so sánh giữa kết quả đầu ra và yếu tố đầu vào (chẳng hạn như: kết quả kinh tế/chi phí bỏ ra,…), thuận tiện hơn trong việc so sánh theo thời gian và không gian cũng như cho phép so sánh hiệu quả giữa các ngân hàng có quy mô khác nhau, các thời kỳ khác nhau. Một cách đơn giản, hiệu quả tương đối đối với trường hợp doanh nghiệp có một biến đầu vào và một biến đầu ra có thể được xác định bằng công thức: EF (Efficiency) = output/input (1) 1. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Ngân hàng trước hết là một tổ chức. Theo lý thuyết hệ thống thì một tổ chức luôn hoạt động trong môi trường cụ thể và chịu sự tác động của nhiều nhân tố môi trường và nhân tố nội tại của tổ chức.
Các nhân tố môi trường là các nhân tố bên ngoài mà tổ chức khó kiểm soát nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến kết quả hoạt động của tổ chức, bao gồm: môi trường kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước, môi trường pháp lý. Các nhân tố nội tại của tổ chức có thể kiểm soát được và điều chỉnh, có ảnh hưởng riêng biệt đến tổ chức. Nhóm nhân tố bên trong bao gồm: năng lực tài chính, năng lực quản trị, điều hành, khả năng ứng dụng tiến bộ công nghệ và nguồn nhân lực. Hầu hết các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của NHTMCP đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả hoạt động của NHTMCP.
Các nhân tố bên ngoài * Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước Với vai trò là một định chế tài chính trung gian quan trọng, NHTMCP là chiếc cầu nối gắn liền khu vực đầu tư và khu vực tiết kiệm của nền kinh tế. Khi hai khu vực này bị ảnh hưởng thì NHTMCP cũng bị ảnh hưởng. Trong một môi trường kinh tế, chính trị, xã hội ổn định, quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Các tổ chức và cá nhân luôn có nhu cầu về vốn để phát triển sản xuất kinh doanh, đồng thời gia tăng khả năng trả nợ.
Ngân hàng thương mại có điều kiện mở rộng tín dụng, nâng cao chất lượng tín dụng, làm giảm chi phí và gia tăng lợi nhuận. Mặt khác, hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định góp phần tạo việc làm cho nền kinh tế, tăng thu nhập cho cá nhân và tổ chức, ổn định nguồn vốn đầu vào cho ngân hàng thương mại, từ đó làm tăng hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại. Ngược lại, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội không ổn định ảnh hưởng không tốt đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhu cầu vay vốn và khả năng trả nợ của các doanh nghiệp giảm, nợ quá hạn và nợ xấu tăng cao làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
Bên cạnh môi trường kinh tế, chính trị xã hội trong nước, NHTMCP còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. Đây là một xu thế tất yếu của thời đại tạo nên những chuyển biến toàn diện trên nhiều lĩnh vực với nhiều mức độ khác nhau thông qua quá trình trao đổi thông tin giữa các quốc gia, cá nhân và các nền kinh tế. Trong lĩnh vực kinh tế, xu thế này thường được đề cập đến là quá trình tự do hóa. Làn sóng tự do hóa xuất hiện từ những năm 1980 bắt đầu bằng quá trình tự do hóa thương mại, tiếp đến là làn sóng đầu tư trực tiếp nước ngoài kéo theo nhu cầu tự do hóa dịch vụ tài chính đã tạo nhiều thuận lợi cho nền kinh tế nhiều quốc gia phát triển, trong đó có các ngân hàng thương mại.
Trong bối cảnh đó, các ngân hàng thương mại có thể tiếp nhận nguồn vốn dồi dào, kinh nghiệm quản lý và trình độ khoa học công nghệ từ nước ngoài để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, những mặt trái của quá trình toàn cầu hóa và sự cạnh tranh với các tổ chức tín dụng nước ngoài, những tập đoàn tài chính đầy tiềm lực là những thử thách không nhỏ đối với các ngân hàng thương mại. Ngoài ra, quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì những biến động của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của nước ngoài nhất là các thị trường tiêu thụ càng gây bất lợi cho hoạt động của NHTMCP, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTMCP. * Môi trường pháp lý LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Môi trường pháp lý bao gồm tính đồng bộ và đầy đủ của hệ thống pháp luật, các văn bản dưới luật, việc chấp hành pháp luật và trình độ dân trí.
Trong đó, hệ thống pháp luật đóng vai trò quan trọng nhất trong việc định hướng nền kinh tế, vừa tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, người tiêu dùng, người lao động và cộng đồng xã hội nói chung. Là một bộ phận quan trọng trong hệ thống tài chính, NHTMCP chịu sự kiểm soát chặt chẽ về phương diện pháp lý hơn so với các ngành khác.