LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Nền nông nghiệp Việt Nam đã được hình thành từ lâu đời nay với hai ngành sản xuất chính là trồng trọt và chăn nuôi. Cả hai ngành sản xuất chính này luôn gắn bó mật thiết với nhau, cùng thúc đẩy và hỗ trợ nhau trong quá trình phát triển. Trong đó, chăn nuôi đã và đang từng bước trở thành một ngành sản xuất hàng hóa chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất nông nghiệp và cũng là ngành mũi nhọn trong xóa đói giảm nghèo ở nông thôn.
Ngành chăn nuôi hiện nay là một trong những ngành đem lại hiệu quả cao. Nó chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Chăn nuôi là một nghề của người nông dân. Từ việc chăn nuôi nhỏ lẻ tại các hộ gia đình nhằm tận dụng được nguồn cỏ tự nhiên, hiện nay đã có nhiều phương thức chăn nuôi đa dạng góp phần nâng cao thu nhập của người dân.
Chăn nuôi nước ta đang được chú ý phát triển với nhiều phương thức khác nhau nhằm để tăng nhanh về số lượng và nâng cao về chất lượng. Huyện Định Hóa là một huyện thuộc vùng núi, người dân ở khu vực này thường là những hộ thuần nông chỉ có một số ít hộ là kinh doanh. Xã Phượng Tiến có đường giao thông đi lại thuận lợi. Đây là một xã được dự án SAEMAUL của Hàn Quốc lựa chọn đầu tư nhằm giúp cho người dân trong xã phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng đời sống.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, ngành chăn nuôi nước ta cũng gặp phải một số vấn đề phức tạp cả trong công tác chọn giống, thức ăn, thị trường đầu ra, nhất là dịch bệnh, đây là một trong những nguyên nhân gây thiệt hại kinh tế lớn cho ngành chăn nuôi. Vật nuôi thường mắc các bệnh dễ lây lan, làm suy giảm năng suất sinh sản, phát triển chậm như là: thỏ mắc bệnh về nấm, bệnh đường hô hấp,…; gà mắc bệnh newcastle, gumboro,…; dê mắc bệnh lở mồm long móng, viêm phổi, kí sinh trùng,… Và còn rất nhiều các loại bệnh khác ở trên vật nuôi. h 2 Xuất phát từ thực tiễn trên được sự đồng ý của Ban Giám hiệu trường Đại học Nông lâm và sự phân công của khoa Kinh tế & Phát triển Nông thôn cùng với sự hướng dẫn của thầy giáo ThS. Lành Ngọc Tú, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá hiệu quả các mô hình chăn nuôi trong thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại xã Phượng Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên”.
Mục tiêu chung Đánh giá hiệu quả mô hình chăn nuôi ở địa phương và từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi góp phần thực hiện xây dựng nông thôn mới tại xã Phượng Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 1. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến kinh tế của xã Phượng Tiến - Điều tra thực trạng sản xuất và đánh giá hiệu quả của mô hình chăn nuôi - Phân tích thuận lợi và khó khăn đến phát triển các mô hình - Đề xuất một số giải pháp nhằm giúp các hộ nông dân nâng cao hiệu quả chăn nuôi góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của người dân 1. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Giúp sinh viên củng cố lý thuyết và rèn luyện kỹ năng đã học về chuyên ngành khuyến nông và những môn học được học trong chương trình đào tạo của nhà trường.
- Giúp sinh viên nắm được các phương pháp học, phương pháp làm về việc nghiên cứu trong thực tiễn sản xuất. - Trong quá trình thực hiện đề tài giúp sinh viên có điều kiện học hỏi, củng cố kiến thức, kỹ năng chuyên môn cho bản thân sau khi ra trường sẽ thực hiện tốt công việc đúng chuyên ngành của mình. h 3 - Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở khoa học cho việc đề xuất các chiến lược phát triển kinh tế chăn nuôi trong nông hộ tại xã Phượng Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở cho các cấp chính quyền địa phương đưa ra những kết luận mới, hướng đi mới để xây dựng kế hoạch phát triển, mở rộng mô hình chăn nuôi trên địa bàn nghiên cứu cũng như khu vực nông thôn khác.
- Góp phần tăng thu nhập cho các hộ gia đình có điều kiện kinh tế chưa cao và đóng góp vào thực hiện xây dựng nông thôn mới đáp ứng được các tiêu chí đề ra. h 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Khái niệm đánh giá - Đánh giá dự án là nhìn nhận và phân tích toàn bộ quá trình triển khai thực hiện dự án, các kết quả thực hiện cũng như hiệu quả kinh tế đạt được của dự án trong mối quan hệ với nhiều yếu tố, so sánh với mục tiêu ban đầu. - Đánh giá là so sánh những gì đã thực hiện bằng nguồn lực của thôn bản và những hỗ trợ từ bên ngoài với những gì thực sự đã đạt được [1].
Các loại đánh giá Đánh giá tiền khả thi/khả thi Đánh giá tiền khả thi là đánh giá tính khả thi của hoạt động hay dự án, để xem xét liệu dự án hay hoạt động có thể thực hiện được hay không trong từng điều kiện cụ thể nhất định. Loại đánh giá này thường do tổ chức tài trợ thực hiện, những tổ chức này sẽ phân tích các khả năng thực hiện của dự án hay hoạt động đề làm căn cứ phê duyệt hay không phê duyệt để đưa vào thực hiện. Đánh giá định kỳ Là đánh giá từng giai đoạn thực hiện, có thể là đánh giá toàn bộ các công việc trong một giai đoạn, nhưng cũng có thể đánh giá từng công việc ở từng giai đoạn nhất định. Nhìn chung đánh giá định kỳ thường áp dụng cho những dự án có thời gian thực hiện lâu dài.
Tùy theo dự án mà người ta có thể định ra những khoảng thời gian để đánh giá định kỳ, có thể là 3 tháng, 6 tháng hay 1 năm một lần. Mục đích của đánh giá định kỳ để tìm ra điểm mạnh, điểm yếu, khó khăn, thuận lợi trong một thời kỳ nhất định để có thể thay đổi hay điều chỉnh các hoạt động cho phù hợp với những gì đã đề ra và cho những giai đoạn kế tiếp. Khái niệm về hiệu quả Hiệu quả là khái niệm chung để chỉ các kết quả hoạt động của các sự vật, hiện tượng bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường và hiệu quả xã hội. Hiệu quả về kinh tế Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế nhưng nhìn chung chúng ta có thể nói hiệu quả kinh tế là một phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hóa dịch vụ và tất cả các phạm trù, quy luật kinh tế khác.
Mặt khác, hiệu quả kinh tế cũng là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế, các nguồn lực trong quá trình sản xuất kinh doanh. Trong khi các nguồn lực rất có hạn, nhu cầu hàng hóa của xã hội ngày càng tăng và đa dạng, nâng cao hiệu quả kinh tế là một xu thế khách quan của sản xuất. Cụ thể đối với ngành nông nghiệp: hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh với lượng hiệu quả thu gom được và chi phí bỏ ra trong một thời gian nhất định của một phương án sản xuất nhất định, hay một cây trồng, một con gia súc nào đó đạt được so sánh tối ưu giữa đầu vào và đầu ra trong điều kiện sản xuất khác nhau, như điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của ngành sản xuất nào đó. Khi xác định hiệu quả kinh tế chúng ta cần xem xét và kết hợp chặt chẽ giữa lượng tuyệt đối với tương đối, qua đó biết được tốc độ và quy mô sản xuất nào đó.
Tuy nhiên, trong điều kiện thị trường hiện nay, mục tiêu hàng đầu của người sản xuất kinh doanh là thu nhập và lợi nhuận cao, do vậy hiệu quả kinh tế trong sản xuất thiên hướng về mặt kinh tế nhiều hơn so với mặt xã hội. Có nhiều quan điểm về khái niệm hiệu quả kinh tế, hiệu quả kinh tế ở mỗi nơi, mỗi vùng khác nhau. Nhưng hầu hết các quan điểm đều phản ánh 6 mối quan hệ giữa kết quả hoạt động sản xuất với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Các quan điểm về hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế được thể hiện là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được với chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Kết quả đạt được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra phần giá trị của các yếu tố nguồn lực đầu vào. Mối tương quan này cần xét cả về tương đối và tuyệt đối, cũng như xét mối tương quan giữa hai đại lượng đó. Một phương án đúng hay một giải pháp kinh tế kỹ thuật, hiệu quả kinh tế cao là đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. h 6 Hiệu quả kinh tế trước hết được xác định bởi sự so sánh tương đối giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Với cách biểu hiện này đã chỉ rõ được mức độ hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực sản xuất khác nhau. Từ đó so sánh được hiệu quả kinh tế của các quy mô sản xuất khác nhau, nhưng nhược điểm của cách đánh giá này không thể hiện được quy mô của hiệu quả nói chung. Hiệu quả về xã hội Là phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu của xã hội như: giải quyết việc làm trong phạm vi toàn xã hội, làm giảm số người thất nghiệp tạo điều kiện để mọi người trong vùng đều có việc làm và tăng thu nhập, không ngừng nâng cao mức sống cả về vật chất và tinh thần trên cơ sở đó thực hiện công bằng dân chủ, công bằng xã hội. Hiệu quả về môi trường Đối với ngành chăn nuôi sẽ tận dụng được phân từ việc chăn nuôi vào việc sử dụng làm bioga, sau đó các chất thải dư thừa từ bioga có thể lại đem vào sử dụng để làm phân bón cho cây trồng giúp người dân tận dụng tối đa nguồn phân sẵn có.
Đồng thời, việc chăn nuôi nhiều sử dụng thức ăn công nghiệp làm ô nhiễm không khí, nguồn nước, sức khỏe con người cũng không bị ảnh hưởng.