phần mở đầu và kết luận, khóa luận bao gồm 4 phần chính: − Phần 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn − Phần 2: Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu − Phần 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận − Phần 4: Các giải pháp và kiến nghị nâng cao HQKT của cây chuối nuôi cấy mô n 12 Phần 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Vị trí, vai trò của cây chuối mô trong sự phát triển kinh tế 1. Ý nghĩa của việc phát triển cây chuối nuôi cấy mô Cây chuối nằm trong họ Musaceae, là một trong 8 họ thuộc bộ gừng Zingiberales (trước kia gọi là Csitaminales). Chuối tiêu thuộc loại cây thảo, cao từ 3m đến 4m, sống lâu năm, thân cây tròn, mềm, thẳng, có bẹ lá.
Cuống hình tròn có khuyết rãnh, lá to, dài. Trái nằm trên buồng, có từ 6-8 nải, mỗi nải khoảng 12 trái. Trái nhỏ, dài, mùi thơm. Khi chưa chín vỏ màu xanh nhưng khi chín thì chuyển sang màu vàng.
Quả chuối có vị ngọt, tính rất lạnh (tính hàn), không độc [19]. Chuối là loại cây ăn trái rất được ưa chuông trên thế giới. Ở một số quốc gia đặc biệt là các nước có khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới, trái chuối là món ăn chính trong thực đơn của họ. Ở châu Á nước xuất khẩu chuối nhiều nhất là Philippines, nước nhập khẩu nhiều nhất là Nhật Bản.
Hiện nay thị trường tiêu thụ chuối vẫn đang được mở rộng như khu vực Bắc Đông Á, Trung Cận Đông và một số nước Tây Âu. Một số nước trước đây nhập khẩu chuối từ Châu Mỹ thì nay đã bắt đầu chuyển sang nhập khẩu chuối của Châu Á. Trong đó có những khách hàng rất quan tâm đến chuối của Việt Nam và có thể mua với số lượng lớn. Đối với người Việt Nam, từ xưa tới nay chuối mang lại nhiều lợi ích thiết thực và rất gần gũi với cuộc sống, cây chuối được trồng rất phổ biến trong vườn của mỗi người dân ở nông thôn.
Quả chuối là một loại thức ăn quí cho người ở bất kể lứa tuổi nào. Hoa chuối và thân cây chuối non cũng là một thứ rau tốt. Củ chuối cũng ăn được. Thân chuối già dùng làm thức ăn gia súc.
Lá chuối dùng để gói bánh. Hạt của giống chuối hột được ngâm với rượu là vị thuốc chữa bệnh sỏi thận và tiểu đường. Quả chuối còn xanh chứa 10% tinh bột và 6,53% chất tanin. Chuối chín chứa rất nhiều chất dinh dưỡng, trong 100g có :Carbohydrates 22.
Vitamin A tương đương 3 µg.26 mg Magnesium 27 mg.1: Hàm lượng vitamin trong một số loại quả Loại Caroten A (tiền Thiamin Riboflavin Axit ascobic quả vitamin C) (vitamin B1) (vitamin B2) (vitamin C) Chuối 0,24 0,05 0,06 10,00 Táo 0,05 0,03 0,07 5,00-8,00 cam 0,04-0,17 0,08 0,03-0,05 52,00-53,00 Cây chuối được trồng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, đồng thời cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể trong thương mại rau quả toàn cầu. Theo số liệu của FAO hàng năm toàn thế giới sản xuất trên 100 triệu tấn chuối tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển (khoảng 98%) và được xuất khẩu tới các nước phát triển. Khoảng 13 triệu tấn chuối được dành cho xuất khẩu mỗi năm. Ở Việt Nam, Theo số liệu thống kê năm (2014), năm 2013 diện tích chuối của cả nước là 122,6 nghìn ha, sản lượng xấp xỉ 1,8 triệu tấn.
Xuất khẩu chuối của Việt Nam hàng năm đạt trên 39 nghìn tấn. Các nước nhập khẩu chuối của Việt Nam là Oxtraylia, Nga, Hà Lan, Trung Quốc, Đức, Mông Cổ, Niu Zilân, Mỹ. Trong đó tập trung chủ yếu vào thị trường Trung Quốc và Nga. Để có được lượng chuối quả xuất khẩu cần phải chủ động về chất lượng, số lượng cây chuối giống cung cấp cho các vùng chuyên canh.
Công nghệ nuôi cấy mô tạo ra cây giống với những ưu điểm vượt trội là một giải pháp hiệu quả cho vấn đề này: − Giữ nguyên được đặc tính ưu trội của vật liệu nhân giống ban đầu Từ những cây chuối tây giống gốc ban đầu được tuyển chọn với đặc tính không sâu bệnh, sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất cao làm vật liệu nhân giống. Nhân giống cây chuối bằng công nghệ nuôi cấy mô tế bào về cơ bản là công nghệ nhân dòng nên sẽ tạo ra quần thể cây giống đồng nhất về mặt di truyền (true-to-type) với số lượng lớn, do đó các cây chuối giống được nhân giống từ cây giống gốc sẽ giữ nguyên được tính trạng tốt. − Sản phẩm cây chuối giống có độ đồng đều cao: Nhân giống chuối tây bằng công nghệ nuôi cấy mô tế bào ngoài tạo ra cây giống đồng nhất về mặt di truyền nó còn tạo ra một số lượng cây giống lớn có độ đồng đều cao về kiểu hình. Điều này có ý nghĩa rất lớn cho người sản xuất chuối quả vì cả vườn chuối nuôi cấy mô sẽ cho thu hoạch quả vào cùng một thời điểm thuận lợi cho việc bán chuối quả với số lượng lớn, giảm chi phí sản xuất phát sinh.
n 14 − Sản phẩm cây chuối giống sạch bệnh: Nhân giống chuối bằng công nghệ nuôi cấy mô tế bào là một phương pháp hữu hiệu để loại bỏ virus, nấm khuẩn ra khỏi cây giống trong quá trình nhân nên sẽ tạo được sản phẩm cây chuôi giống hoàn toàn sạch bệnh. Các giống sạch bệnh tạo ra bằng cấy mô thường tăng năng suất 15-39% so với giống gốc. − Sản phẩm cây chuối giống nuôi cấy có thể cung cấp với số lượng lớn, không phụ thuộc vào mùa vụ hay thời tiết. Áp dụng công nghệ nuôi cấy mô tế bào sản xuất chuối giống trong một năm có thể sản xuất được hàng triệu cây hoặc nhiều hơn nữa tùy thuộc vào quy mô sản xuất.
Ngoài ra, Công tác nhân giống được thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm và nhà lưới nên không bị ảnh hưởng nhiều của thời tiết và mùa vụ. Do đó, cây chuối giống nuôi cấy mô có thể cung cấp với số lượng lớn trong một thời gian ngắn vào bất cứ thời điểm nào trong năm. − Quy trình nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào (in vitro) cây chuối: Giai đoạn 1: Tạo chồi ban đầu (cấy khởi đầu) 4-8 tuần Giai đoạn 2: Nhân chồi in vitro (nhân nhanh) 4 tuần Giai đoạn 3: Tái sinh cây hoàn chỉnh (tạo rễ) 4-5 tháng Giai đoạn 4: Ra ngôi cây trong nhà lưới n 15 1. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật sản xuất cây chuối mô Cây chuối mô là loại cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn cho thu hoạch sớm, thông thường chuối Từ khi trồng đến khi trổ hoa là 8 tháng đến 10 tháng.
từ khi trổ hoa đến khi thu hoạch là 80-95 ngày sẽ cho thu hoạch vụ đầu tiên đối với chuối tiêu. thu hoạch khi chuối còn xanh, quả cứng đạt độ già 75-80%. Vì vậy, cây chuối mô là loại cây trồng ngắn ngày giúp quay vòng vốn nhanh tính thích nghi rộng phù hợp với nhiều loại đất trồng cũng như khí hậu. Là loại cây trồng giúp cải thiện vườn tạp, năng suất cao (1 buồng có trên chục nải, mỗi buồng chuối nặng từ 25 – 40kg).
Việc bảo quản và vận chuyển đi xa dễ dàng, giá trị thu nhập cao (gấp 4 – 5 lần trồng lúa và các cây hoa màu khác) và ít rủ ro hơn các cây trồng khác [19]. Đất trồng chuối tốt nhất là đất tơi xốp, nhiều mùn, nhất là đất phù sa, bùn ao phơi ải, nơi không bị ngập úng và dễ tưới tiêu nước. Tốt nhất đối với chuối là đất thịt nhẹ, đất pha cát, đất phù sa (tốt hơn cả), đất thoáng có cấu tượng tốt và độ xốp cao. Vườn trồng chuối phải quang đãng để có đủ ánh sáng quang hợp.
Độ pH thích hợp trồng chuối là từ 5-7. Sản xuất trồng chuối tập trung trên quy mô lớn sẽ tạo được công ăn việc làm và lao động trong vùng, nâng cao đời sống của các hộ gia đình, phân bố lại cơ cấu cây trồng. Trên địa hình sườn đồi thấp và vườn có thể trồng được các loại cây nông lâm nghiệp khác thay thế cây chuối mô. Do vậy, khi đánh giá HQKT của cây chuối mô phải so sánh được nó cao hay thấp so với HQKT của các cây trồng đó với sản xuất cây chuối mô [14].
Một số vấn đề cơ bản về HQKT 1. Các quan niệm khác nhau về HQKT Hiệu quả là vấn đề được các nhà nghiên cứu kinh tế cũng như các nhà quản lý quan tâm hàng đầu. Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng của quá trình sản xuất. Nó được xác định bằng so sánh kết quả sản xuất với chi phí bỏ ra.
Nếu chi phí bỏ ra càng ít và kết quả mang lại càng nhiều thì điều đó có ý nghĩa hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại [2]. Trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trường để thực hiện nghiêm ngặt chế độ hoạch toán kinh tế, đảm bảo lấy doanh thu bù đắp được chi phí và có lãi đòi hỏi hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp phải có hiệu quả cao để doanh nghiệp có n 16 thể đứng vững và phát triển trong nền kinh tế có nhiều thành phần, nó cạnh tranh và quan hệ quốc tế với nước ngoài ngày càng mở rộng [5]. Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh có thể hiểu là phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực (nhân tài, vật lực, nguồn vốn…) và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh [1]. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nước ta hiện nay được đánh giá trên hai phương diện là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Trong khóa luận này, khi nói đến hiệu quả sản xuất kinh doanh chỉ xét trên phương diện hiệu quả kinh tế ta có thể mô tả theo công thức sau: − Hiệu quả kinh tế trong nông lâm nghiệp: Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế (HQKT), tuy nhiên chúng ta có thể tóm tắt thành ba loại quan điểm như sau: + Quan điểm thứ nhất cho rằng HQKT được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và các chi phí bỏ ra (các nguồn nhân tài, vật lực, nguồn vốn…) để đạt được kết quả đó. + Quan điểm thứ hai cho rằng HQKT được đo bằng hiệu số giữa giá trị sản xuất đạt được và lượng chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. + HQKT = kết quả sản xuất - chi phí + Quan điểm thứ ba xem xét HQKT trong phần biến động giữa chi phí và kết quả sản xuất.