Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Quan điểm về trang trại, kinh tế trang trại.TS Nguyễn Thế Nhã "trang trại là một loại hình tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, thủy sản, có mục đích chính là sản xuất hàng hóa, có tư liệu sản xuất thuộc độc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tiến bộ và trình dộ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ luôn gắn với thị trường. Nghị quyết TW số 06/NQ - TW ngày 10/11/1998 đã xác định: ".trang trại gia đình thực chất là kinh tế hộ sản xuất hàng hóa với quy mô lớn hơn, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình chủ yếu để sản xuất, kinh doanh có hiệu quả." Tương tự như khái niệm về trang trại, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra một số khái niệm về kinh tế trang trại như sau: Theo PGS.TS Lê Trọng: "Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở, là doanh nghiệp tổ chức sản xuất trực tiếp ra nông sản phẩm hàng hóa dựa trên cơ sở hợp tác và phân công lao động xã hội, được chủ trang trại đầu tư vốn, thuê mướn phần lớn hoặc hầu hết sức lao động và trang thiết bị, tư liệu sản xuất để hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của thị trường, được nhà nước bảo hộ theo luật định". Theo quan điểm của nghị quyết 03/2000 NQ - CP về khuyến khích phát triển trang trại cho rằng: "Bản chất của kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn chủ yếu dựa vào kinh tế hộ gia đình".
Như vậy, ta có thể thấy, nói kinh tế trang trại là ta đang xét mặt kinh tế của trang trại, bên cạnh kinh tế, trang trại còn có thể được xem xét dưới các khía cạnh khác như xã hội và môi trường. Kinh tế trang trại là tổng thể các yếu tố 5 sản xuất kinh doanh và các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình hoạt động của trang trại, còn trang trại là nơi diễn ra các hoạt động và các mối quan hệ đó. Pháp luật về trang trại. Theo thông tư liên tịch số 69/2000/BNN - TCTK ngày 13/6/2000 của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn và Tổng cục Thống kê về hướng dẫn tiêu chí xác định kinh tế trang trại (trong đề tài này, tôi gọi tắt đây là tiêu chí cũ), hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được xác định là trang trại phải đạt được cả hai tiêu chí định lượng sau đây: 1.
Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm: - Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải Miền trung từ 40 triệu đồng trở lên. - Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên. Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế. Đối với trang trại trồng trọt (1) Trang trại trồng cây hàng năm + Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải Miền trung + Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên (2) Trang trại trồng cây lâu năm + Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải Miền Trung.
+ Từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên. + Trang trại trồng hồ tiêu 0,5 ha trở lên. (3) Trang trại lâm nghiệp + Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước. Đối với trang trại chăn nuôi (1) Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò,v.
+ Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên. + Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên. (2) Chăn nuôi gia súc: lợn, dê,v. 6 + Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với hơn 20 con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con trở lên.
+ Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa), dê thịt từ 200 con trở lên. (3) Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng,v. có thường xuyên từ 2.000 con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi). Trang trại nuôi trồng thuỷ sản - Diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản có từ 2 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên).
Đối với các loại sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản có tính chất đặc thù như: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thuỷ sản và thuỷ đặc sản, thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hoá (tiêu chí 1). Mới đây, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn đã ban hành thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13/4/2011 quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại (trong đề tài này, tôi gọi tắt đây là tiêu chí mới). Thông tư này thay thế cho thông tư liên tịch số 69/2000/BNN - TCTK ngày 13/6/2000 của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn và Tổng cục Thống kê về hướng dẫn tiêu chí xác định kinh tế trang trại. Quy định tiêu chí xác nhận kinh tế trang trại (điều 5): Cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau: 1.
Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất tổng hợp phải đạt: a) Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu: - 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long. - 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại. b) Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm. Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên.
Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên. Có thể nhận thấy sự thay đổi mạnh của các tiêu chí xác định kinh tế trang trại, nhất là tiêu chí giá trị sản lượng hàng hóa. Các trang trại đã đạt chuẩn của tiêu chí cũ rất khó có thể đạt được những điều kiện theo tiêu chí mới trong thời gian ngắn. Chính vì thế đã có nhiều khó khăn, vướng mắc xảy ra đối với các trang trại và cả các cấp chính quyền địa phương.
Việc nghiên cứu đề tài này của tôi, các trang trại được xác định dựa trên cơ sở của tiêu chí cũ, một phần mục đích là để các cấp chính quyền có cơ sở quy hoạch lại các trang trại đạt chuẩn tiêu chí cũ, những trang trại nào có tiềm năng phát triển, có thể đạt chuẩn theo tiêu chí mới, từ đó có định hướng phát triển cụ thể.3 Quan điểm về hiệu quả kinh tế. Hiệu quả kinh tế (HQKT) là một phạm trù phản ánh việc sử dụng nguồn lực (nhân lực, vật lực.) để đạt được hiệu quả cao nhất. Hay nói cách khác HQKT là một phạm trù phản ánh chất lượng của một hoạt động kinh tế. Nâng cao chất lượng một hoạt động kinh tế là tăng cường sử dụng các nguồn lực có sẵn trong một hoạt động kinh tế.
Đây là đòi hỏi khách quan của một nền sản xuất do nhu cầu vật chất ngày càng cao. - Quan điểm thứ nhất: HQKT là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế được xác định bằng công thức: Hiệu quả kinh tế = kết quả thu được – chi phí bỏ ra. (H) = (Q) - (C) Đến nay, quan điểm này đã không còn phù hợp, vì nếu hoạt động sản xuất có cùng một kết quả sản xuất nhưng lại khác nhau về chi phi sản xuất thì sẽ khác nhau về hiệu quả. HQKT theo quan điểm này không phản ánh đúng mục tiêu của người sản xuất là tối thiểu hóa chi phí, tối đa hóa lợi nhuận.
- Quan điểm thứ hai: HQKT được xác định bằng nhịp độ tăng trưởng sản xuất hoặc tổng sản phẩm quốc dân, hiệu quả cao khi nhịp độ tăng trưởng của các chỉ tiêu đó cao và hiệu quả kinh tế có nghĩa là không lãng phí. Một 8 nền kinh tế được coi là có hiệu quả khi nó nằm trên giới hạn năng lực sản xuất đặc trưng bằng chỉ tiêu sản lượng tiềm năng của kinh tế, sự chênh lệch giữa sản lượng tiềm năng thực tế (sản lượng cao nhất có thể đạt được trong điều kiện toàn dụng nhân công) và sản lượng thực tế là sản lượng tiềm năng mà xã hội không dùng được phần bị lãng phí. - Quan điểm thứ ba: HQKT là mức độ thỏa mãn yêu cầu quy luật kinh tế cơ bản của kinh tế chủ nghĩa xã hội, cho rằng quỹ tiêu dùng là đại diện cho mức sống nhân dân, là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của nền sản xuất xã hội. - Quan điểm thứ tư: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức tăng của kết quả sản xuất kinh doanh trên mỗi lao động hay mức doanh lợi của vốn sản xuất kinh doanh về chỉ tiêu tổng hợp cụ thể nào đó.
- Quan điểm thứ năm: hiệu quả của một quá trình nào đó, theo định nghĩa chung là mỗi quan hệ tỷ lệ giữa hiệu quả (theo mục đích) với các chi phí sử dụng (nguồn lực) để đạt được kết quả đó. Từ những quan điểm khác nhau về hiệu quả như trên ta thấy rằng nó là một phạm trù trọng tâm và rất cơ bản của hiệu quả kinh tế quản lý. Hơn nữa việc xác định hiệu quả là hết sức khó khăn và phức tạp cả về lý luận và thực tiễn. Bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội.
Vì vậy, sản xuất phải không ngừng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Quan điểm về hiệu quả trong điều kiện hiện nay là thoả mãn vấn đề tiết kiệm thời gian, tài nguyên trong sản xuất mang lại lợi ích xã hội và bảo vệ môi trường. Chính vì vậy mà hiệu quả của một quá trình nào đó cần được đánh giá toàn diện cả về ba khía cạnh: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường. Hiệu quả xã hội: Hiệu quả xã hội cảu bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh, của bất kỳ mô hình nào thì đó chính là khả năng tạo việc làm thường xuyên, tạo cơ hội để mọi người dân trong vùng đều có việc làm và tăng thêm 9 thu nhập.