Mở đầu Nước sạch là một nhu cầu cơ bản trong đời sống hằng ngày của mọi người và đang trở thành đòi hỏi bức bách trong việc bảo vệ sức khỏe và cải thiện điều kiện sinh hoạt cho nhân dân, cũng như trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Hiện nay vẫn còn 70% dân số ở vùng nông thôn nước ta đang sử dụng nước không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh và một nửa số hộ không có nhà tiêu. Các bệnh liên quan tới nước như tiêu chảy, đường ruột phổ biến và chiếm tỷ lệ cao nhất trong các bệnh thường gặp hiện nay trong bệnh viện và trạm y tế. Vấn đề xây dựng công trình cấp nước đang trở thành một đòi hỏi rất cấp bách và có tầm quan trọng rất lớn trong những giai đoạn sắp tới.
Trong bối cảnh đó cần phải có một chiến lược phát triển tổng quát và lâu dài cho lĩnh vực cấp nước sạch. Tiểu dự án thuộc chương trình CN&VSNT dựa trên kết quả trong khuôn khổ chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG), do đó tuân thủ những nguyên tắc và mục tiêu đề ra trong Chiến lược quốc gia về NS&VSNT đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm cải thiện điều kiện sống và giảm nghèo đói cho cư dân nông thôn ở khu vực đồng bằng sông Hồng. Các nguyên tắc đó bao gồm: Dịch vụ cấp nước sạch và vệ sinh môi trường được thực hiện theo nguyên tắc đáp ứng nhu cầu người dân trên cơ sở cung cấp thông tin đầy đủ để người dân được lựa chọn loại hình dịch vụ cấp nước và vệ sinh, hình thức chi trả và mô hình quản lý tốt nhất để vận hành. Các dự án về cấp nước sạch đã được triển khai thực hiện trên một số địa bàn trên các tỉnh trong nước.
Một số dự án bước đầu đã mang lại hiệu quả đáng kể, tuy nhiên có những dự án mãi vẫn chỉ nằm trên giấy tờ hoặc tiến độ triển khai rất chậm. Nguyên nhân của tình trạng trên không phải do lỗi của riêng ai, hay của một cấp ban nghành nào. Vì khi đưa vào triển khai thực hiện gặp nhiều khó khăn từ khâu quy hoạch chuẩn bị đầu tư đến khâu triển khai. Vậy một vấn đề lớn đặt ra ở đây làm thế nào để nâng cao hiệu quả quản lý các dự án cấp nước sạch trên cả nước 5 nói chung và trên địa bàn Thanh Hóa nói riêng trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư là một bài toán lan rải và chưa có biện pháp khắc phục.
Các khái niệm về quản lý dự án và quản lý dự án đầu tư xây dựng 1. Khái niệm và phân loại dự án a. Khái niệm dự án Theo Đại bách khoa toàn thư, từ “Project – Dự án” được hiểu là “Điều có ý định làm” hay “Đặt kế hoạch cho một ý đồ, quá trình hành động”. Như vậy, dự án có khái niệm vừa là ý tưởng, ý đồ, nhu cầu vừa có ý năng động, chuyển động hành động.
Chính vì lẽ đó mà có khá nhiều khái niệm về thuật ngữ này, cụ thể như: Dự án là việc thực hiện một mục đích hay nhiệm vụ công việc nào đó dưới sự ràng buộc về yêu cầu và nguồn lực đã định. Thông qua việc thực hiện dự án để cuối cùng đạt được mục tiêu nhất định đã đề ra và kết quả của nó có thể là một sản phẩm hay một dịch vụ mà bạn mong muốn. Dự án là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa trên nguồn vốn xác định. Dự án là một quá trình mang đặc thù riêng bao gồm một loạt các hoạt động được phối hợp và kiểm soát, có định ngày khởi đầu và kết thúc, được thực hiện với những hạn chế về thời gian, chi phí và nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu phù hợp với những yêu cầu cụ thể.
Dự án là đối tượng của quản lý và là một nhiệm vụ mang tính chất 1 lần, có mục tiêu rõ ràng trong đó bao gồm chức năng, số lượng và tiêu chuẩn chất lượng, yêu cầu phải được hoàn thành trong một khoảng thời gian quy định, có dự toán tài chính từ trước và nói chung không được vượt qua dự toán đó [11, tr. Như vậy có thể biểu diễn dự án bằng công thức sau: Dự án = Kế hoạch + Tiền + Thời gian Sản phẩm duy nhất (Vật chất, tinh thần, dịch vụ). Dự án đầu tư là gì? (Chỉ bao gồm hoạt động đầu tư trực tiếp) 6 Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định. Theo một quan điểm khác thì dự án đầu tư là tổng thể các giải pháp nhằm sử dụng các nguồn tài nguyên hữu hạn sẵn có để tạo ra những lợi ích thiết thực cho nhà đầu tư và cho xã hội [10, tr.
Dự án đầu tư là công cụ để tiến hành các hoạt động đầu tư, do đó bên trong nó chứa đựng các yếu tố cơ bản của hoạt động đầu tư. Trước hết, dự án đầu tư phải thể hiện rõ mục tiêu đầu tư là gì, có thể là mục tiêu dài hạn, trung hạn hay ngắn hạn hoặc là mục tiêu chiến lược hay mục tiêu trước mắt. Mục tiêu trước mắt được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế cụ thể như năng lực sản xuất, quy mô sản xuất hay hiệu quả kinh tế. Còn mục tiêu dài hạn có thể là các lợi ích kinh tế cho xã hội mà dự án đầu tư phải mang lại.
Hai là, nguồn lực và cách thức để đạt được mục tiêu. Nó bao gồm các điều kiện và biểu pháp vật chất để thực hiện như vốn, nhân lực, công nghệ. Ba là, với khoảng thời gian bao lâu thì các mục tiêu có thể đạt được và cuối cùng là ai có thể thực hiện hoạt động đầu tư này và kết quả của dự án. Vậy các đặc trưng chủ yếu của dự án đầu tư đó là: - Xác định được mục tiêu, mục đích cụ thể; - Xác định được hình thức tổ chức để thực hiện; - Xác định được nguồn tài chính để tiến hành hoạt động đầu tư; - Xác định được khoảng thời gian để thực hiện mục tiêu dự án [10, tr.
Dự án xây dựng là gì ? Dự án xây dựng là cách gọi tắt của Dự án đầu tư xây dựng công trình, được giải thích trong Luật xây dựng Việt Nam ngày 18/06/2014 như sau: Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự 7 án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng” [9]. Một dự án xây dựng bao gồm các vấn đề sau: 1. Kế hoạch: Tính kế hoạch được thể hiện rõ qua các mục đích được xác định, các mục đích này phải được cụ thể hóa thành các mục tiêu và dự án chỉ hoàn thành khi các mục tiêu cụ thể đã đạt được.
Tiền: Đó chính là sự bỏ vốn để xây dựng công trình. Nếu coi phần “Kế hoạch của dự án” là phần tinh thần, thì tiền được coi là phần vật chất có tính quyết định sự thành công của dự án. Thời gian: Thời gian rất cần thiết để thực hiện dự án, nhưng thời gian đồng nghĩa với cơ hội của dự án. Đây cũng là một đặc điểm rất quan trọng cần được quan tâm.
Đất: Đất cũng là một yếu tố vật chất hết sức quan trọng. Đây là một tài nguyên đặc biệt quý hiếm. Đất ngoài các giá trị về địa chất, còn có giá trị về vị trí, địa lý, kinh tế, môi trường, xã hội. vì vậy quy hoạch, khai thác và sử dụng đất cho các dự án xây dựng có những đặc điểm và yêu cầu riêng, cần hết sức lưu ý khi thực hiện dự án xây dựng.
Sản phẩm của dự án xây dựng có thể là: xây dựng công trình mới: cải tạo, sửa chữa công trình cũ, mở rộng nâng cấp công trình cũ. Công trình xây dựng: Công trình xây dựng là sản phẩm của dự án đầu tư xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, năng lượng và các công trình khác. Công trình xây dựng bao gồm một hạng mục hoặc nhiều hạng mục công trình. Như vậy công trình xây dựng là mục tiêu và là mục đích của dự án, nó có một đặc điểm riêng đó là: - Các công trình xây dựng là mục đích của cuộc sống con người, khi nó là các công trình xây dựng dân dụng như: nhà ở, khách sạn.
- Các công trình xây dựng là phương tiện của cuộc sống khi nó là các công trình xây dựng cơ sở để tạo ra các sản phẩm khác như: xây dựng công nghiệp, giao thông, thủy lợi. 8 Một cách chung nhất có thể hiểu dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cụ thể cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ xác định [10, tr. Phân loại dự án Dự án có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau.1 phân loại các dự án thông thường theo một tiêu chí cơ bản [10, tr. Phân loại dự án STT Tiêu chí phân loại Các loại dự án 1 Theo cấp độ Dự án thông thường: chương trình, hệ thống 2 Theo quy mô Nhóm A, nhóm B, nhóm C 3 Theo lĩnh vực Xã hội, kinh tế, tổ chức hỗn hợp Giáo dục đào tạo; nghiên cứu và phát triển; đổi mới; 4 Theo loại hình đầu tư tổng hợp.