CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Vai trò và vị trí của ngành chăn nuôi lợn đối với đời sống 1. Vai trò Chăn nuôi lợn là một ngành có từ lâu đời, chăn nuôi lợn đã và đang phát triển mạnh mẽ cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi.
Chăn nuôi lợn mang lại sự đột phá trong chuyển dịch kinh tế của ngành chăn nuôi và trồng trọt. Chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng mang lại hiệu quả kinh tế cao, ổn định cho người dân, giúp phần xoá đói giảm nghèo, mang lại cuộc sống tốt đẹp cho người dân. Đối với người dân Việt Nam, thịt lợn là một thức ăn hàng ngày trong bữa ăn, nó có nhiều giá trị dinh dưỡng, cung cấp cho con người dinh dưỡng để lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất. Ngày nay, ngành chăn nuôi lợn càng được phổ biến rộng rãi hơn, được nhà nước quan tâm khuyến khích phát triển mạnh mẽ, từng bước nâng cao và khẳng định vai trò quan trong của ngành chăn nuôi lợn trong cơ cấu phát triển kinh tế của đất nước cũng như từng địa phương.
Sản phẩm thịt lợn của Việt Nam này nay không chỉ để phục vụ tiêu dùng trong nước, mà còn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng để tăng thu ngoại tệ góp phần phát triển kinh tế của đất nước. Ngành chăn nuôi lợn cũng mang lại nguồn thu nhập cao và ổn định cho người chăn nuôi, từng bước cải thiện đời sống kinh tế, tạo ra công ăn việc làm cho bộ phận lao động dư thừa nhất là ở các vùng nông thôn, trung du, miền núi… Chăn nuôi lợn có vai trò quan trọng trong hệ thống sản xuất nông Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 nghiệp cùng với lúa nước là hai hợp phần quan trọng và xuất hiện sớm nhất trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam. Nói chung lợn có một số vài trò nổi bật như sau: - Chăn nuôi lợn cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho con người.Harris G và CTV (1956) cho biết cứ 100g thịt lợn nạc có 367 Kcal, 22g protein (Harris G và cs 1956) - Chăn nuôi lợn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Hiện nay thịt lợn là nguyên liệu chính cho các công nghiệp chế biến thịt xông khói (bacon) thịt hộp, thịt lợn xay, các món ăn truyền thống của người Việt Nam như giò nạc, giò mỡ cũng làm từ thịt lợn.
- Chăn nuôi cung cấp phân bón cho cây trồng, phân lợn là một trong những nguồn phân hữu cơ tốt, có thể cải tạo và nâng cao độ phì nhiêu cho đất đặc biệt là đất nông nghiệp. Một con lợn trong một ngày đêm có thể thải 2,5 - 4kg phân ngoài ra còn có lượng nước tiểu chứa hàm lượng Nito và Phốt pho cao. - Chăn nuôi lợn góp phần giữ vững cân bằng sinh thái giữa cây trồng, vật nuôi và con người. Trong các nghiên cứu về môi trường nông nghiệp, lợn là vật nuôi quan trọng và là một thành phần không thể thiếu được của hệ sinh thái nông nghiệp.
- Chăn nuôi lợn có thể tạo ra nguồn nguyên liệu cho y học trong công nghệ sinh học y học, lợn đã được nhân bản gen (cloning) để phục vụ cho mục đích nâng cao sức khỏe cho con người. - Chăn nuôi lợn giúp cho chủ trang trại chăn nuôi có nguồn thu nhập ổn định điều kiện kinh tế ngày càng được cải thiện. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vị trí Chăn nuôi lợn có vị trí hàng đầu trong ngành chăn nuôi ở nước ta.
Sự hình thành sớm về chăn nuôi lợn và nghề lúa nước đã cho chúng ta khẳng định nghề nuôi lợn có vị trí hàng đầu. Không những thế, việc tiêu thụ thịt lợn trong các bữa ăn hàng ngày của con người là rất phổ biến. Ngoài ra thịt lợn còn được coi là một trong những loại thực phẩm có mùi vị dễ thích hợp cho tất cả các đối tượng (người già, trẻ nhỏ, nam hay nữ). Nói cách khác là thịt lợn nhẹ mùi và không gây ra hiện tượng dị ứng do thực phẩm, đây là ưu điểm nổi bật của thịt lợn.
Phải chăng, thịt lợn là món ăn có thể năng cao sức khỏe cho con người, điều quan trọng là trong quá trình chọn giống và nuôi dưỡng chăm sóc, đàn lợn phải luôn luôn khỏe mạnh, sức đề kháng cao và thành phần các chất dinh dưỡng tích lũy vào thịt có chất lượng tốt và có giá trị sinh học. Yêu cầu của chăn nuôi lợn Chăn nuôi lợn phải có hiệu quả kinh tế, năng suất và chất lượng sản phẩm tốt, được người tiêu dùng tin cậy. Do vậy, việc chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý đàn lợn phải đảm bảo cho chúng sinh trưởng, phát dục bình thường, có tốc độ tăng trọng nhanh, có khả năng sinh sản tốt và sản xuất con giống có chất lượng cao, có sức đề kháng tốt. Muốn vậy, người chăn nuôi nắm chắc kỹ thuật chăn nuôi lợn, phòng, trừ dịch bệnh và tiếp cận tốt với thị trường.
Các nhân tố ảnh hưởng đến chăn nuôi lợn - Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên; Gồm điều kiện tự nhiên như thời tiết, khí hậu, đất đai, nguồn nước, hướng gió …. ảnh hưởng đến hoạt động chăn nuôi của trang trại nuôi lợn. - Nhóm nhân tố kinh tế kỹ thuật; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Gồm các nhân tố về trang thiết bị kỹ thuật sử dụng trong chăn nuôi trang trại lợn như kỹ thuật chăm sóc, phòng dịch, tiêu độc, khử trùng (khử mùi), vệ sinh môi trường, điều chỉnh nhiệt độ, hướng gió tại các chuồng nuôi lợn…. - Nhóm nhân tố về điều kiện kinh tế xã hội; Gồm các nhân tố về điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương như chính sách của nhà nước liên quan đến trang trại chăn nuôi lợn, công tác tuyên truyền, tập huấn, phổ biến các phương pháp, biện pháp chăn nuôi lợn an toàn, hiệu quả….
Một số khái niệm cơ bản a) Khái niệm về nông nghiệp Nông nghiệp là một khái niệm chỉ ngành nghề hay sản nghiệp, đối lập với công nghiệp, dịch vụ bao gồm những ngành lấy đất đai, mặt nước, đồng cỏ làm tư liệu sản xuất chủ yếu, là sản nghiệp cơ sở (nền tảng) của các sản nghiệp thứ hai (công nghiệp), sản nghiệp thứ ba (dịch vụ); là sản nghiệp đầu tiên cho sự sinh tồn của cư dân, là sản nghiệp chính của nông dân (Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, 2012) Nông nghiệp khác các ngành nghề khác: quá trình sản xuất của nó chịu sự chi phối của tài nguyên thiên nhiên và có sự ngắt quãng theo dây chuyền, là khâu sản xuất trung gian, các khâu trước và sau sản xuất không thuộc phạm trù nông nghiệp. Từ những nghiên cứu nêu trên và căn cứ vào phân ngành kinh tế của Tổng cục Thống kê Việt Nam, có thể thấy, nông nghiệp là một trong ba lĩnh vực của nền kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ), gồm nhiều ngành hợp thành: ngành nông nghiệp, ngành lâm nghiệp, ngành thuỷ sản như sơ đồ 1. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Nền kinh tế Lĩnh vực Lĩnh vực Lĩnh vực nông nghiệp công nghiệp dịch vụ Ngành nông nghiệp Ngành lâm nghiệp Ngành thủy sản Trồng trọt Trồng rừng Nuôi trồng Quản lý Chăn nuôi bảo vệ rừng Đánh bắt Sơ đồ 1. Các ngành trong lĩnh vực nông nghiệp Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam (Năm 2001) b) Khái niệm về hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh sử dụng nguồn nhân lực, vật lực để đạt được hiệu quả cao nhất hay nói cách khác hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh chất lượng của một hoạt động kinh tế.
Nâng cao chất lượng một hoạt động kinh tế là tăng cường lợi dụng các nguồn lực có sẵn trong một hoạt động kinh tế, đòi hỏi khách quan của một nền sản xuất xã hội, do nhu cầu vật chất ngày càng cao. c) Khái niệm về yếu tố đầu vào, đầu ra Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và mức độ chi phí các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh. Nó là thước đo trở nên ngày càng quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. * Đối với các yếu tố đầu vào: Các yếu tố đầu vào trong các hoạt động sản xuất của người dân bao gồm tất cả các chi phí về tài chính, thời gian, công lao động… (chi phí giống, chi phí thức ăn, chi phí marketing…) Do các tư liệu sản xuất tham gia vào quy trình sản xuất không đồng nhất có thể lại rất khó xác định giá trị nào đào thải và chi phí sửa chữa nên việc tính toán khấu hao và phân bổ chi phí để xác định các chỉ tiêu hiệu quả có tính chất tương đối.
Do sự biến đổi không ngừng của thị trường nên việc xác định chi phí cố định là không chính xác mà chỉ có tính tương đối. Một số yếu tố đầu vào rất khó lượng hóa (thông tin, tuyên truyền, cơ sở hạ tầng…) nên không thể tính toán một cách chính xác. * Đối với yếu tố đầu ra: Yếu tố đầu ra của hoạt động sản xuất của người dân chính là kết quả của quá trình sản xuất đó là các sản phẩm nông nghiệp, những lợi ích từ hoạt động sản xuất kinh tế. Phần lớn những kết quả sản xuất ra là có thể lượng hóa được một cách cụ thể nhưng vẫn có những yếu tố không thể lượng hóa được: Bảo vệ môi trường, năng lực cạnh tranh của nhà sản xuất khả năng tạo việc làm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.