Đặt vấn đề Những năm gần đây, rừng tự nhiên đã bị suy giảm nhanh chóng cả về số lƣợng và chất lƣợng. Trƣớc thực trạng đó, các địa phƣơng ở nƣớc ta đã quan tâm và đẩy mạnh kinh doanh trồng rừng. Trong đó việc trồng các loài cây mọc nhanh, năng suất cao góp phần tăng nhanh độ che phủ đất trống đồi núi trọc, đồng thời đáp ứng yêu cầu về gỗ, giải quyết việc làm cho cộng đồng xã hội, nhất là đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa. Với tốc độ phát triển kinh tế nhƣ hiện nay, nhu cầu gỗ cho xây dựng và các nhu cầu khác trên thị trƣờng nội địa cũng đƣợc dự báo sẽ liên tục tăng.
Để đáp ứng nhu cầu sử dụng gỗ ngày càng tăng của xã hội, ngành Lâm nghiệp đã đề ra nhiều giải pháp, kỹ thuật trồng rừng để nâng cao năng suất và chất lƣợng rừng trồng. Trong những năm qua công tác trồng rừng đã đƣợc các cấp chính quyền và ngƣời dân quan tâm nhiều hơn, diện tích rừng trồng tăng lên đáng kể, đặc biệt là rừng sản xuất. Hà Giang là một tỉnh vùng núi phía Bắc tổng diện tích 7.473 ha diện tích đất tự nhiên, đất Nông nghiệp có 134.184 ha, chiếm 17% diện tích tự nhiên, đất Lâm nghiệp có 334.100 ha, chiếm 42,4%, đất chƣa sử dụng có 310.064 ha, chiếm 39,3%, còn lại là đất chuyên dùng và đất ở. Tỉnh Hà Giang đã và đang có các chủ chƣơng, chính sách nhằm đẩy mạnh công tác trồng rừng sản xuất.
Nhiều doanh nghiệp, Công ty lâm nghiệp đƣợc thành lập và phát triển trên địa bàn tỉnh, nhiều diện tích rừng đƣợc gây trồng và bƣớc đầu mang lại những lợi ích kinh tế nhất định. Mặc dù diện tích đất trồng rừng sản xuất lớn, nhƣng theo đánh giá sơ bộ của Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Hà Giang thì lƣợng tăng trƣởng bình quân hàng năm chỉ đạt khoảng 14 - 16m3/ha/năm. Với lƣợng tăng trƣởng nhƣ vậy thì khả năng đáp ứng nhu cầu về gỗ nguyên liệu cho địa phƣơng và cho xuất khẩu là không đủ. Do đó, cần phải nâng cao đƣợc năng suất, chất lƣợng gỗ rừng trồng.
Công ty lâm nghiệp Ngòi Sảo là Doanh nghiệp nhà nƣớc thuộc Tổng Công ty Giấy Việt Nam có địa bàn hoạt động trên phạm vi 6 xã của Huyện Bắc Quang - tỉnh n 2 Hà Giang. Trụ sở chính đóng tại thôn Lung Cu, xã Quang Minh. Là Công ty đã và đang gây trồng nhiều loài cây lâm nghiệp nhƣ Keo hạt, Keo lai, Bồ đề. Nhận thấy việc đánh giá hiệu quả kinh tế của cây trồng đem lại là việc làm vô cùng cần thiết.
Do thời gian thực tập ngắn hạn, thực hiện trên một phạm vi rộng với nhiều loài cây trồng khác nhau vì vậy tôi tiến hành lựa chọn cây Keo lai để nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế cây Keo lai của Công ty lâm nghiệp Ngòi Sảo xã Quang Minh - huyện Bắc Quang - tỉnh Hà Giang” nhằm đánh giá đƣợc năng suất và chất lƣợng gỗ Keo lai đồng thời đƣa ra giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế rừng trồng Keo lai trong những năm tiếp theo góp phần quan trọng đáp ứng nhu cầu về gỗ cho xây dựng và các nhu cầu khác trên địa bàn nghiên cứu nói riêng và tỉnh Hà Giang nói chung. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Đánh giá đƣợc hiệu quả kinh tế cây Keo lai của Công ty lâm nghiệp Ngòi Sảo - Đề xuất đƣợc một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế rừng trồng Keo lai của Công ty lâm nghiệp Ngòi Sảo. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong khoa học - Qua việc thực hiện đề tài sẽ giúp sinh viên vận dụng đƣợc những kiến thức mà sinh viên tiếp thu đƣợc trong quá trình học tập tại trƣờng và nó có vai trò rất quan trọng đối với ngƣời thực hiện đề tài.
- Đề tài giúp sinh viên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, củng cố những kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tế, biết cách tích lũy, thu thập, phân tích, xử lý thông tin cũng nhƣ kỹ năng tiếp cận và làm việc với cán bộ và ngƣời dân. - Nghiên cứu đề tài nhằm tìm ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế của cây Keo lai và khả năng nhân rộng diện tích trồng Keo lai tại Công ty lâm nghiệp Ngòi Sảo. - Đề tài sau khi hoàn thành có thể làm tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu sau đó. Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ đóng góp một phần vào việc đánh giá sát thực n 3 hơn về quy trình trồng Keo lai tại địa bàn nghiên cứu.
Cung cấp nguyện liệu có chất lƣợng cao, phục vụ một số ngành Công nghiệp, tiểu thủ Công nghiệp và xây dựng. Giúp cho các nhà lãnh đạo có căn cứ để xây dựng chính sách phát triển cây Keo lai tại địa bàn nghiên cứu nói riêng và trên địa bàn huyện nói chung. Đề ra phƣơng hƣớng để nâng cao hiệu quả kinh tế của cây Keo lai đem lại cho Công ty lâm nghiệp Ngòi Sảo nói riêng và trên địa bàn huyện Bắc Quang nói chung. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cở sở khoa học 2. Hiệu quả kinh tế trong trồng rừng Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt đƣợc cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối, điều đó có nghĩa là hai yếu tố hiện vật và giá trị đều đƣợc tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong sản xuất… Nhƣ vậy hiệu quả kinh tế là mục tiêu xuyên suốt các hoạt động kinh tế. Nó không phải là mục tiêu duy nhất mà trong nền kinh tế xã hội ngƣời ta còn quan tâm đến cả hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trƣờng. Là khâu trung tâm của tất cả các loại hiệu quả và nó có vai trò quyết định đến tất cả các loại hiệu quả khác.
Hiệu quả kinh tế có khả năng lƣợng hoá bằng hệ thống các chỉ tiêu kinh tế. Trong việc sử dụng đất trƣớc hết phải sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm càng nhiều hàng hoá với giá thành hạ, chất lƣợng của sản phẩm và năng suất lao động cao, tích luỹ tái sản xuất mở rộng không ngừng. [11] Đối với cây trồng lâu năm hiệu quả kinh tế đƣợc tính bằng hệ thống các chỉ tiêu động nhƣ: NPV, BCR, IRR. tính theo sự thay đổi giá trị đồng tiền (chiết khấu).
Khái quát về cây Keo lai (Acacia Hybrid) Keo lai (Acacia mangium x Acacia auriculiformis) là tên gọi để chỉ giống lai tự nhiên giữa Keo tai tƣợng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis). Hai loài bố mẹ của Keo lai này đƣợc trồng ở nƣớc ta từ vài chục năm trở lại đây, hai loài keo bố mẹ đã đƣợc đánh giá và công nhận là những loài cây mọc nhanh cũng nhƣ có giá trị ở nhiều mặt (lấy gỗ, củi.và là loài cây cải tạo đất). Hiện nay Keo tai tƣợng và Keo lá tràm vẫn đang đƣợc trồng phổ biến ở nhiều nơi trong cả nƣớc. Giống Keo lai đã đƣợc phát hiện và khảo nghiệm ở Việt Nam, đợt một trong các năm 1993 - 1995.
Từ năm 1996 Trung tâm Nghiên cứu giống cây rừng đã phối hợp với các đơn vị khác tiếp tục tiến hành nghiên cứu về Keo lai. Các nghiên cứu này gọi là n 5 chọn lọc thêm các cây Keo lai tự nhiên, xây dựng các khảo nghiệm dòng vô tính, tiến hành đánh giá tiềm năng bột giấy của Keo lai, khả năng cải tạo đất của Keo lai, cũng nhƣ tiến hành khảo nghiệm dòng Keo lai chọn đƣợc ở các vùng sinh thái khác nhau. Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh nông lâm nghiệp đều biết đến loài Keo lai bởi những ƣu thế của nó về sinh trƣởng và một số giá trị về kinh tế, cũng nhƣ khả năng cải thiện đất, nâng cao dộ phì của đất trồng hơn hẳn so với một số loài cây mọc nhanh khác, Keo lai đã đƣợc đánh giá trên cơ sở những nghiên cứu thực nghiệm cơ bản và cả trên mô hình trồng thử Keo lai tại một số vùng sinh thái ở nƣớc ta. Năm 1995 Keo lai đã đƣợc hội đồng khoa học Bộ Lâm nghiệp (trƣớc đây) đánh giá là giống tiến bộ kỹ thuật và cần tiếp tục nghiên cứu khảo nghiệm nhằm đƣa giống này vào sản xuất đại trà, trồng rừng phủ xanh đất trồng đồi núi trọc, làm cây phù trợ cho trồng rừng đặc dụng, phòng hộ, trồng cây nguyên liệu cho Công nghiệp giấy, ván nhân tạo.
phục vụ cho các chƣơng trình trồng rừng nhƣ: 327, 5 triệu ha rừng, trồng cây nguyên liệu v. ở nƣớc ta cho sản xuất nông nghiệp lâu dài. Phân bố Theo Pinso và Nasi (1991) Keo lai giữa Keo tai tƣợng và Keo lá tràm đƣợc Messir Herbern và Shim phát hiện lần đầu tiên trong số các cây Keo tai tƣợng trồng ven đƣờng ở Sook Telupid thuộc bang Sabah (Malaixia). Đến năm 1976, Tham cũng coi là giống lai.
Đến tháng 7 năm 1978 sau khi xem xét các mẫu tiêu bản tại phòng tiêu bản thực vật ở Queensiand (Australia) đƣợc gửi tới từ tháng 1 năm 1977, Pegley đã xác nhận đó là giống lai tự nhiên giữa Keo tai tƣợng và Keo lá tràm. Từ đó trở đi Keo lai đã đƣợc các nhà lâm nghiệp để ý đến và cũng đƣợc phát hiện ở nhiều vùng khác nhƣ: phát hiện của Turnbull, 1986 [19], Gun et al, 1987 và Griffin, 1988 [17] - thì vùng Balamuk và Old Tonda của Papua New Guinea. Theo Rufelds, 1987 [20] thì Keo lai còn phân bố ở một số nới của Sabah. Theo Kijkar, 1992 [18] thì Keo lai cùng đƣợc phát hiện ở Thái Lan.
Ở đây Keo Lai đƣợc gây trồng thành đám khoảng 30 cây tại trụ sở của Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng ASEAN - Canada ở Muak - Lek, Saraburi. n 6 Ngoài ra, từ năm 1992 ở Indonesia đã bắt đầu có thí nghiệm trồng Keo Lai từ nuôi cấy mô phân sinh, cùng Keo tai tƣợng và Keo lá tràm. Keo lai tự nhiên còn tìm thấy trong vƣờn ƣơm Keo tai tƣợng (lấy giống từ Malaysia) của Trạm nghiên cứu Jon-pu của Viện nghiên cứu lâm nghiệp Đài Loan và ở khu trồng Keo tai tƣợng tại Quảng Châu (Trung Quốc). Ở nƣớc ta giống Keo lai ở Ba Vì có nguồn gốc cây mẹ là Keo tai tƣợng có xuất xứ Pain-tree bang Queensland - Australia.
Cây bố là Keo lá tràm xuất xứ Darwin bang Northern Territory - Australia. ở Đông Nam Bộ hạt giống lấy từ cây mẹ Keo tai tƣợng xuất xứ Mossman và cây bố Keo lá tràm cũng ở Australia nhƣng không rõ xuất xứ.