ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng và đe dọa đến sự tồn tại và phát triển của con người. Do vậy, việc bảo vệ môi trường và phát triển biền vững trở cấp thiết hơn bao giờ. Bên cạnh việc đảm bảo chất lượng môi trường và sức khỏe của con người, nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao, điều này khiến lượng chất thải rắn y tế tăng lên. Bệnh viện có thể trở thành một trong những nguồn gây nguy hại cho môi trường và cộng đồng nếu hoạt động quản lý chất thải rắn y tế không hiệu quả.
Nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý chất thải rắn y tế, Bộ Y Tế đã chỉnh sửa lại quy chế „„Quản lý chất thải y tế” năm 1999 và theo quyết định43/QD-BYT năm 2007 đưa ra quy chế “Quản lý Chất Thải Y Tế”. Quy chế mới có nhiều điểm mới về hệ thống quản lý chất thải rắn từ khi chất thải y tế phát sinh cho đến khi chúng được tiêu hủy. Tuy nhiên, việc thực hiện tại các bệnh viện còn tồn tại nhiều vấn đề. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai là tuyến cao nhất của tỉnh Lào Cai, và là trung tâm y tế có nhiệm vụ khám và chữa bệnh cho người dân trong và ngoài tỉnh, với quy mô hơn 600 giường bệnh.
Biện viện có vị trí đặc biệt ở trung tâm thành phố Lào Cai, xung quanh là khu vực dân cư đông đúc, cùng với các trường trung cấp chuyên nghiệp. Chất thải rắn y tế của bệnh viện được quản lý bởi 2 cơ quan độc lập, sự không đồng nhất và thiếu kết hợp trong quản lý và xử lý chất thải y tế có thể dẫn tới những vấn đề môi trường trong tương lai. Ngoài ra, việc nghiên cứu đánh giá hoạt động quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện chưa được tiến hành, các giải pháp cải thiện chưa được đề xuất và áp dụng. Xuất phát từ thực tế trên, tác giả đã lựa chọn và thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý chất thải rắn tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai’’.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số vấn đề cơ bản về chất thải rắn y tế 1.1 Khái niệm chất thải rắn y tế Quy chế Quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế ban hành tại Quyết định số 43/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 đã đưa ra khái niện về chất thải rắn y tế như sau: Chất thải rắn y tế là vật chất ở thể rắn được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường. Chất thải y tế nguy hại: Là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ, phóng xạ, dễ cháy nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn.2 Phân loại chất thải rắn y tế Hầu hết chất thải rắn trong quá trình khám chữa bệnh đều là chất thải độc hại và mang đặc thù riêng. Chúng cần được phân loại cẩn thận trước khi thải chung với các loại chất thải rắn thải sinh hoạt khác, nếu không sẽ gây ra nhưng hậu quả ảnh hưởng tới cộng đồng như bệnh, lây lan vào các môi trường khác.
Vì vậy khâu phân loại rất là quan trọng để đạt hiệu quả xử lý chất thải, hạn chế gây ô nhiễm môi trường. Ở Việt Nam, theo quyết định 43/2007 của Bộ Y Tế chất thải được chia làm 05 loại sau: (1) Chất thải lâm sàng Nhóm A: Chất thải nhiễm khuẩn chứa mầm bệnh với số lượng, mật độ đủ gây bệnh, bị bệnh khuẩn bởi vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, năm … bao gồm các vật liệu bị thấm máu, thấm dịch, chất bài tiết của bệnh nhân như gạc, bông, găng tay, bột bó gãy xương, dây truyền máu… Nhóm B: là các vật sắc nhọn: bơm tiêm, lưỡi, cán dao mổ, mảnh thuỷ tinh vỡ và mọi vật liệu tạo vết cắt hoặc chọc thủng. Nhóm C: Chất thải nguy cơ lây nhiễm phát sinh từ phòng xét nghiệm: 2 găng tay, lam kính, ống nghiệm, bệnh phẩm sau khi xét nghiệm, túi đựng máu… Nhóm D: Chất thải dược phẩm, dược phẩm quá hạn, bị nhiễm khuẩn, dược phẩm bị bỏ, không còn nhu cầu sử dụng và thuốc gây độc tế bào. Nhóm E: là mô, cơ quan người bệnh, động vật, mô cơ thể (nhiễm khuẩn hay không nhiễm khuẩn), chân tay, nhau thai, bào thai… (2) Chất thải gây độc tế bào Vật liệu bị ô nhiễm như bơm tiêm, gạc, lọ thuốc… thuốc quá hạn, nướctiểu, phân… chiếm 1% chất thải bệnh viện.
(3) Chất thải phóng xạ Chất thải có hoạt độ riêng như chất phóng xạ. chất thải phóng xạ phát sinh từ hoạt động chuẩn đoán, hoá trị liệu và nghiên cứu. chất thải phóng xạ gồm chất thải rắn, lỏng, khí. Chất thải phóng xạ rắn: vật liệu sử dụng trong xét nghiệm, chuẩn đoán như ống tiêm, bơm tiêm, giấy thấm… Chất thải phóng xạ lỏng: dung dịch chứa nhân tố phóng xạ, tham gia điều trị, chất bài tiết.
Chất thải phóng xạ khí: khí dùng trong lâm sàng, khí từ kho chứa chất phóng xạ. (4) Chất thải hoá học Chất thải từ nhiều nguồn, chủ yếu từ hoạt động xét nghiệm, chuẩn đoán bao gồm: formaldehyd, hoá chất quang học, dung môi, etylen, hỗn hợp hoá chất… Các loại bình chứa có áp Bình chứa khí có áp như bình CO2, O2, Gas, bình khí dung, bình khs dùng 1 lần… các bình dễ gây cháy nổ, khi thiêu đốt cần thu riêng. (5) Chất thải sinh hoạt Chất thải không bị coi là chất thải nguy hại, phát sinh từ bệnh viện, phòng làm việc… giấy báo, tài liệu đóng gói, thùng, túi nilon, thức ăn dư thừa.3 Thành phần chất thải rắn y tế Theo kết quả điều tra của Bộ Y Tế và Tổ chức y tế Thế Giới (2009), thành phần chất thải rắn y tế được trình bày trên bảng 1. Thành phần chất thải y tế STT Thành phần CTRYT TỶ LỆ (%) 1 Chất thải rắn hữu cơ 52 2 Đất đá và các loại chất thải rắn khác 32 3 Giấy các loại 3 4 Kim loại, vỏ hộp 0.7 Thủy tinh, bơm tiêm nhựa, chai lo thuốc, ông 5 3 tiêm 6 Bông băng, bột bó gẫy xương 9.5 7 Chai, túi nhựa 10 8 Bệnh phẩm 0.3 % là chất thải liên quan tới người bệnh.2 Hiện trạng về hoạt động quản lý chất thải rắn y tế trên Thế Giới và ở Việt Nam 1.1 Trên thế giới Trên thế giới, quản lý chất thải rắn bệnh viện được nhiều quốc gia quan tâm và tiến hành một cách triệt để từ rất lâu.
Về quản lý, một loạt những chính sách quy định, đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất thải này. Các hiệp ước quốc tế, các nguyên tắc, pháp luật và quy định về chất thải nguy hại, trong đó có cả chất thải bệnh viện cũng đã được công nhận và thực hiện trên hầu hết các quốc gia trên thế giới. Công ước Basel: Công ước này được ký kết bởi hơn 100 quốc gia, quy định 4 về sự vận chuyển các chất độc hại qua biên giới, đồng thời áp dụng, cả với chất thải y tế, Công ước này đưa ra nguyên tắc chỉ vận chuyển hợp pháp chất thải nguy hại từ các quốc gia không có điều kiện và công nghệ thích hợp sang các quốc gia có điều kiện vật chất kỹ thuật để xử lý an toàn một số chất thải đặc biệt. Hiện tại, trên thế giới, ở hầu hết các quốc gia phát triển, trong các bệnh viện, cơ sở chăm sóc sức khỏe, hay những công ty đặc biệt xử lý phế thải đều có thiết lập hệ thống xử lý loại phế thải y tế.
Đó là các loại lò đốt ở nhiệt độ cao tùy theo loại phế thải từ 10000 C đến trên 40000 C. Tuy nhiên phương pháp này hiện nay vẫn còn đang tranh cãi về việc xử lý khí bụi sau khi đốt đã được thải hồi vào không khí. Ngoài ra, còn có phương pháp khác để giải quyết vấn đề này đã được các quốc gia lưu tâm đến vì phương pháp đốt đã gây ra nhiều bất lợi do lượng khí độc hại phát sinh thải vào không khí, đó là phương pháp nghiền nát phế thải và xử lý dưới nhiệt độ và áp suất cao để tránh việc phóng thích khí thải.2 cho thấy trên thế giới, sự phát sinh chất thải y tế trên đầu người ở các nước có sự khác sau, đất nước có thu nhập càng cao thì có lượng chất thải y tế càng tăng. Khối lƣợng CTYT phát sinh theo mức thu nhập của ngƣời dân Chất thải y tế chung Chất thải y tế nguy hại STT Mức thu nhập (kg/đầu người/năm) (kg/đầu người/năm) 1 Nước có thu nhập cao 1.5 2 Nước có thu nhập trung bình 0.4 3 Nước có thu nhập thấp 0.3 (Nguồn: Uỷ ban liên minh Châu Âu, 2004) Đối với các nước đang phát triển, việc quản lý môi trường nói chung vẫn chưa thực sự hiệu quả.
Tuy nhiên, trong khoảng 5 năm trở lại đây, các quốc gia 5 như Ấn Độ, Trung Quốc đã bắt đầu chú ý đến việc bảo vệ môi trường, và có nhiều tiến bộ trong việc xây dựng các lò đốt ở bệnh viện. Đặc biệt ở Ấn Độ, từ năm 1998, chính phủ đã ban hành luật về “Phế thải y tế: Lập thủ tục và Quản lý". Trong bộ luật này có ghi rõ ràng phương pháp tiếp nhận phế thải, phân loại phế thải, cùng việc xử lý và di dời đến các bãi chất thải rắn… Do đó, vấn đề phế thải y tế độc hại của quốc gia này đã được cải thiện rất nhiều.2 Tại việt nam 1.1 Hiện trạng Một số bệnh viện lợi dụng sự lỏng công tác quản lý giám sát để nhân viên hợp đồngcung cấp chất thải rắn thải y tế cho các cơ sở tái chế tư nhân chưa qua xử lý. Phần lớn các bệnh viện ở Việt Nam được xây dựng trong giai đoạn đất nước còn chưa phát triển, nhận thức về vấn đề môi trường chưa cao nên các bệnh viện đều không có hệ thống xử lý chất thải nghiêm túc, đúng quy trình kỹ thuật.
Cơ sở vật chất kỹ thuật để xử lý triệt để các loại chất thải độc hại còn bị thiếu thốn. Bên cạnh đó, công tác quản lý còn lỏng lẻo và chưa có quy trình xử lý triệt để.