MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một nước sản xuất nông nghiệp là chính, với cơ cấu của ngành nông nghiệp chiếm 20,23%, khoảng 70% dân số sống ở nông thôn, 60% dân số làm nghề nông. Chính vì vậy đã nhiều năm nay, nông nghiệp được coi là mặt trận hàng đầu trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Nó có vị trí hết sức quan trọng vì nó sản xuất ra lương thực, thực phẩm phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người mà các ngành khác không thay thế được và cũng sản xuất ra nguồn nguyên liệu cần thiết cho nhiều ngành công nghiệp hay nói cách khác “Nông nghiệp là nền móng cho các lĩnh vực khác” Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang phấn đấu trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020, tuy nhiên để đạt được mục tiêu này không phải đơn giản vì hiện nay khoảng 70% dân số sống ở khu vực nông thôn và sinh sống chủ yếu bằng hoạt động nông nghiệp. Trong bối cảnh phát triển công nghiệp xây dựng và dịch vụ thương mại, sử dụng đất nông nghiệp để xây dựng cơ bản trong khi đó vấn đề bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, nâng cao chất lượng đời sống người dân nông thôn.
Đó là một vấn đề không đơn giản, đòi hỏi phải có chủ trương chính sách phù hợp với từng vùng, từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế. Vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân hiện nay là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta. Đồng hành cùng người nông dân để chia sẻ những thuận lợi và khó khăn trên con đường hướng tới phát triển một nền nông nghiệp hiệu quả và bền vững là những cán bộ, những khuyến nông viên cơ sở, những tình nguyện viên của hệ thống khuyến nông, khuyến ngư Việt Nam. Trải qua 20 năm từ ngày 02/03/1993 khi Chính phủ ban hành rất nhiều các nghị định về khuyến nông cụ thể như: Nghị định 13/NĐ - CP ra đời 2/3/1993, Nghị định 56/NĐ - CP ra đời ngày 26/04/2005, và mới nhất là Nghị định 02/2010/NĐ - CP ban hành ngày 8/1/2010, với những quy định mới về số lượng, vai trò, chức năng nhiệm vụ của khuyến nông đã đem lại nhiều kết quả khả quan cho nông nghiệp nông thôn, làm cho hệ thống khuyến nông nước ta không ngừng lớn mạnh về số lượng và chất lượng, với mạng lưới ngày càng hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương.
Khuyến nông đã có những đóng góp quan trọng n 2 vào việc khuyến khích nông dân áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất, phát triển sản xuất hàng hóa, tạo ra nhiều hàng hóa nông sản có chất lượng và sức cạnh tranh cao trên thị trường làm tăng thu nhập và mức sống cho người dân. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn phải thừa nhận một thực tế đó là hiệu quả mà hoạt động khuyến nông đem lại còn chưa cao, một phần là do trình độ nhận thức của người dân còn thấp, một phần là do năng lực của cán bộ khuyến nông viên cơ sở còn hạn chế, công tác khuyến nông chưa được đầu tư đúng mức, để khắc phục những hạn chế trên đòi hỏi Nhà nước và cán bộ khuyến nông cần có các biện pháp đẩy mạnh công tác khuyến nông hiện nay. Huyện Đại Từ là huyện có nhiều có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế. Tuy vậy, đời sống của nhân dân vẫn còn nhiều khó khăn, sản xuất nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của huyện.
Do vậy, công tác khuyến nông có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển sản xuất của huyện. Công tác khuyến nông của huyện Đại Từ đã có rất nhiều cố gắng để nâng cao năng suất và phẩm chất của cây trồng, vật nuôi, thủy sản, đưa tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất. Tuy nhiên, để phát triển nền nông nghiệp của huyện hiệu quả và bền vững đòi hỏi phải có sự nỗ lực của người dân, sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật, thông tin, thị trường; do đó công tác khuyến nông trong quá trình phát triển của xã hội có đáp ứng được đòi hỏi yêu cầu của sự phát triển không? Trên cơ sở đó xem xét đánh giá hiệu quả thực sự của hệ thống khuyến nông tại huyện liệu có đáp ứng được đòi hỏi ngày càng tăng của sự phát triển hay không? Xuất phát từ vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả hoạt động khuyến nông tại huyện Đại Từ - Tỉnh Thái Nguyên” 1.2 Mục tiêu chung Nghiên cứu, đánh giá được hiệu quả của hoạt động khuyến nông tại huyện Đại Từ trong giai đoạn 2011 - 2013. Tìm ra được những thế mạnh để phát huy đồng thời phát hiện được những bất cập còn tồn tại từ đó đưa ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống khuyến nông của huyện trong những năm tới.
Mục tiêu cụ thể - Nghiên cứu được các hoạt động khuyến nông tại huyện huyện Đại Từ – Thái Nguyên. - Đánh giá được hoạt động của hệ thống khuyến nông huyện Đại Từ - Thái Nguyên. - Phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của công tác khuyến nông huyện Đại Từ. - Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống khuyến nông tại huyện Đại Từ.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa học tập - Củng cố kiến thức lý thuyết đã học trong trường, ứng dụng kiến thức đó vào làm việc, nghiên cứu khoa học ngoài thực tế. - Rèn luyện các kỹ năng thu thập xử lý số liệu, triển khai một đề tài khoa học, cách viết báo cáo - Là tài liệu tham khảo cho trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn và sinh viên các khóa tiếp theo. Ý nghĩa thực tiễn Đề tài đánh giá một cách tổng quát hiệu quả hoạt động của hệ thống khuyến nông tại huyện Đại Từ qua đó ta biết được những điểm mạnh, điểm yếu, thách thức và cơ hội của đội ngũ khuyến nông trong thời gian tới từ đó lựa chọn hoạt động khuyến nông phù hợp nhất nhằm nâng cao hiệu quả của các chương trình khuyến nông trong huyện.
Yêu cầu của đề tài - Trong quá trình thực hiện đề tài phải luôn tuân thủ quy định của địa phương. - Các số liệu điều tra phải chính xác, trung thực khách quan. - Kiến nghị và đề xuất đưa ra phải có tính khả thi và phù hợp với điều kiện địa phương. n 4 Phần2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học 2. Lịch sử phát triển khuyến nông 2. Lịch sử phát triển khuyến nông trên thế giới Vào thế kỷ XV thế kỷ XVI ở Pháp đã có rất nhiều công trình khoa học nông nghiệp đã ra đời như “Ngôi nhà nông thôn” của Enstienne và Liebault nghiên cứu về kinh tế nông thôn và khoa học nông nghiệp. Thế kỷ XVIII, cụm từ Phổ cập nông nghệp hay chuyển giao kỹ thuật đến người nông dân được sử dụng phổ biến.
Tổ chức khuyến nông được coi là đầu tiên trên thế giới là ở Châu Âu và Bắc Mỹ gọi là “Hội nông nghiệp”. Ở Mỹ từ những năm 1845, N. Townshned đã đề xuất việc tổ chức những câu lạc bộ nông dân tại các quận huyện sinh hoạt định kỳ Ở Anh thuật ngữ University Extension hay Extension of University lần đầu tiên được sử dụng ở Anh vào những 1840. Đến những năm 1866 thuật ngữ “Extension” và “Agricultural Extension” được sử dụng ở Anh.
Lịch sử phát triển của khuyến nông Việt Nam Cùng với sự phát triển của khuyến nông thế giới, khuyến nông Việt Nam cũng được hình thành và phát triển tương đối sớm. Các triều đại tiếp theo như nhà Lê, nhà Lý cũng có rất nhiều chính sách chăm lo phát triển nông nghiệp. Đặc biệt vào thời vua Lê Thái Tông (1492), triều định đặt chức Hà đê sứ và Khuyến nông sứ đến cấp phủ huyện và từ năm 1942 mỗi xã có một xã trưởng phụ trách nông nghiệp và đê điều. Triều đình ban bố chiếu khuyến nông, chiếu lập đồn điền, và lần đầu tiên sử dụng từ “khuyến nông” trong bộ luật Hồng Đức.
Triều nhà Nguyễn 1807- 1884 đã định ra chức đinh điền sứ. Từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến 1958 Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới nông nghiệp, người kêu gọi toàn dân khôi phục nền kinh tế, phát triển sản xuất với phương châm “Tăng gia sản xuất gia tăng sản xuất ngay, gia tăng sản xuất nữa! đó là những việc cấp bách của chúng ta lúc này”. n 5 Từ năm 1958 – 1975, hoạt động khuyến nông chủ yếu là cán bộ truyền đạt chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước hay tiến bộ kỹ thuật thông qua Ban quản trị Hợp tác xã rồi từ đó đến người dân. Thành lập các đoàn cán bộ nông nghiệp ở Trung ương, các Tỉnh, huyện về chỉ đạo sản xuất ở cơ sở.
Đất nước hoàn toàn giải phóng, hình thức sản xuất theo hợp tác xã không phù hợp, kinh tế Việt Nam roi vào tình trạng khó khăn, để khắc phục tình trạng đó vào ngày 13/1/1981 chỉ thị 100CT/TW của Ban bí thư Trung ương Đảng được ban hành về “Cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp” đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nền nông nghiệp Việt Nam. Ngày 5/4/1988, Bộ chính trị Trung ương Đảng công sản Việt Nam khóa VI ban hành Nghị quyết 10 về “Đổi mới quản lý trong nông nghiệp” nhằm giải phóng sản xuất trong nông thôn đến từng hộ nông dân, khẳng định xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn. Nghị quyết 10 đã mang lại hiệu quả nhanh chóng và tạo ra bước ngoặt lớn trên mặt trận nông nghiệp Việt Nam. Ngày 2/3/1993, Chính phủ ra Nghị định 13/CP về công tác khuyến nông.
Bắt đầu hình thành hệ thống khuyến nông từ Trung ương đến địa phương. Năm 1993, Cục Khuyến nông Khuyến lâm được thành lập vừa quản lý nhà nước vừa làm khuyến nông. Năm 2001, Trung tâm khuyến nông Trung ương ra đời trực thuộc Cục Khuyến nông. Năm 2003, Trung tâm khuyến nông Quốc gia được thành lập.
Năm 2005, Nghị định số 56/2005/NĐ - CP ra đời đã quy định rõ hơn về hệ thống tổ chức khuyến nông (nhất là hệ thống tổ chức khuyến nông cơ sở), mục tiêu, nguyên tắc, chính sách và nội dung hoạt động khuyến nông (bổ sung thêm nội dung tư vấn, dịch vụ khuyến nông và hợp tác quốc tế về khuyến nông) mở rộng đối tượng tham gia đóng góp và hưởng thụ khuyến nông khuyến ngư. Nhằm thực hiện mục tiêu xã hội hóa công tác khuyến nông - khuyến ngư.