Đánh Giá Kết Quả Hoạt Động Tại Cơ Quan Bảo Hiểm Xã Hội Thị Xã Bến Cát

Luận văn thạc sĩ phân tích kết quả hoạt động tại cơ quan bảo hiểm xã hội Bến Cát theo mô hình bảng điểm cân bằng, cung cấp cái nhìn sâu sắc.

Chuyên ngành

Kế Toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

164
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đánh Giá Hiệu Quả Hoạt Động Cơ Quan Bảo Hiểm Xã Hội Bến Cát

Đánh giá hiệu quả hoạt động của cơ quan bảo hiểm xã hội (BHXH) là một nhiệm vụ quan trọng nhằm đảm bảo rằng các chính sách và quy trình được thực hiện một cách hiệu quả. Cơ quan BHXH thị xã Bến Cát, với vai trò là đơn vị thực hiện các chế độ, chính sách BHXH, cần có một hệ thống đánh giá toàn diện để xác định mức độ hiệu quả trong công tác phục vụ người dân. Việc áp dụng mô hình bảng điểm cân bằng (BSC) sẽ giúp cơ quan này có cái nhìn tổng thể hơn về hiệu quả hoạt động của mình.

1.1. Khái Niệm Đánh Giá Hiệu Quả Hoạt Động

Đánh giá hiệu quả hoạt động là quá trình phân tích và đo lường các kết quả đạt được của một tổ chức. Đối với cơ quan BHXH, điều này không chỉ bao gồm các chỉ số tài chính mà còn cả các chỉ số phi tài chính như sự hài lòng của người dân và chất lượng dịch vụ.

1.2. Vai Trò Của Mô Hình Bảng Điểm Cân Bằng

Mô hình BSC cung cấp một khung đánh giá toàn diện, giúp cơ quan BHXH Bến Cát không chỉ tập trung vào các chỉ số tài chính mà còn chú trọng đến các khía cạnh khác như khách hàng, quy trình nội bộ và học hỏi phát triển.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Đánh Giá Hiệu Quả Hoạt Động

Mặc dù cơ quan BHXH Bến Cát đã có những nỗ lực trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Các vấn đề như thiếu sót trong việc thu thập dữ liệu, sự không đồng nhất trong các chỉ số đánh giá và sự thiếu hụt trong nhận thức của người lao động về vai trò của BHXH là những yếu tố cản trở quá trình này.

2.1. Thiếu Dữ Liệu Đánh Giá Đầy Đủ

Việc thiếu hụt dữ liệu chính xác và đầy đủ là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến khó khăn trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động. Cơ quan cần cải thiện quy trình thu thập và phân tích dữ liệu để có cái nhìn rõ ràng hơn về hiệu quả hoạt động.

2.2. Nhận Thức Của Người Lao Động Về BHXH

Một phần lớn người lao động vẫn chưa nhận thức đầy đủ về quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hệ thống BHXH. Điều này ảnh hưởng đến sự tham gia và sự hài lòng của họ đối với các dịch vụ mà cơ quan cung cấp.

III. Phương Pháp Đánh Giá Hiệu Quả Hoạt Động Bằng Mô Hình BSC

Mô hình BSC là một công cụ hữu ích trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của cơ quan BHXH Bến Cát. BSC không chỉ giúp đo lường các chỉ số tài chính mà còn các chỉ số phi tài chính, từ đó tạo ra một cái nhìn toàn diện về hiệu quả hoạt động.

3.1. Các Khía Cạnh Của Mô Hình BSC

Mô hình BSC bao gồm bốn khía cạnh chính: tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ và học hỏi phát triển. Mỗi khía cạnh này đều có những chỉ số cụ thể để đo lường hiệu quả hoạt động.

3.2. Quy Trình Triển Khai Mô Hình BSC

Quy trình triển khai mô hình BSC bao gồm việc xác định mục tiêu chiến lược, thiết lập các chỉ số đo lường và theo dõi tiến độ thực hiện. Điều này giúp cơ quan BHXH Bến Cát có thể điều chỉnh các hoạt động của mình một cách linh hoạt và hiệu quả.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Mô Hình BSC Tại Cơ Quan BHXH Bến Cát

Việc ứng dụng mô hình BSC tại cơ quan BHXH Bến Cát đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Các chỉ số đánh giá được thiết lập rõ ràng giúp cơ quan có thể theo dõi và cải thiện hiệu quả hoạt động của mình.

4.1. Kết Quả Đạt Được Từ Việc Ứng Dụng BSC

Sau khi áp dụng mô hình BSC, cơ quan BHXH Bến Cát đã ghi nhận sự cải thiện trong các chỉ số tài chính và sự hài lòng của người dân. Điều này cho thấy mô hình BSC đã giúp cơ quan hoạt động hiệu quả hơn.

4.2. Những Bài Học Kinh Nghiệm

Quá trình triển khai mô hình BSC cũng đã chỉ ra một số bài học kinh nghiệm quan trọng, như việc cần có sự đồng thuận từ tất cả các cấp trong cơ quan và sự tham gia tích cực của nhân viên trong quá trình đánh giá.

V. Kết Luận Và Định Hướng Tương Lai

Đánh giá hiệu quả hoạt động tại cơ quan BHXH Bến Cát là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Mô hình BSC đã chứng minh được tính hiệu quả của nó trong việc cung cấp một cái nhìn toàn diện về hoạt động của cơ quan. Trong tương lai, cần tiếp tục cải tiến và mở rộng mô hình này để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân.

5.1. Định Hướng Phát Triển Mô Hình BSC

Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển mô hình BSC để phù hợp với các yêu cầu mới trong công tác bảo hiểm xã hội. Việc cập nhật các chỉ số và mục tiêu sẽ giúp cơ quan BHXH Bến Cát duy trì được hiệu quả hoạt động.

5.2. Tăng Cường Đào Tạo Nhân Lực

Đào tạo nhân lực là một yếu tố quan trọng để đảm bảo rằng mô hình BSC được triển khai hiệu quả. Cần có các chương trình đào tạo thường xuyên để nâng cao nhận thức và kỹ năng cho nhân viên trong cơ quan.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ đánh giá kết quả hoạt động tại cơ quan bảo hiểm xã hội thị xã bến cát dựa trên mô hình bảng điểm cân bằng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ MÔ HÌNH BẢNG ĐIỂM CÂN BẰNG TRONG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG 1. Tổng quan nghiên cứu về sử dụng Bảng điểm cân bằng 1. Các nghiên cứu được công bố ở nước ngoài Bảng điểm cân bằng (BSC) được giới thiệu bởi Kaplan và Norton vào năm 1992. BSC là một hệ thống đo lường (Kaplan và Norton, 2001; Niven, 2003), một hệ thống quản lý chiến lược (Kaplan và Norton, 1996) và một công cụ truyền thông (Kaplan và Norton, 1992; Niven, 2003).

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ giới hạn trình bày vai trò của BSC là một hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động của tổ chức. Với vai trò là hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động, BSC đã được chứng minh sử dụng thành công trên toàn thế giới trong nhiều tổ chức phi lợi nhuận. Do hạn chế về thời gian và khả năng tiếp cận nên tác giả chỉ xin nêu một số công trình tiêu biểu mà tác giả đã được nghiên cứu như sau: Vào năm 2006, nhà khoa học Shun-Hsing Chen đã công bố nghiên cứu: “The application of balanced scorecard in the performance evaluation of higher education” nhằm chứng minh BSC là một hệ thống đánh giá hiệu quả hoạt động cũng như là một công cụ quản lý chiến lược cho ngành giáo dục đại học ở Đài Loan. Nghiên cứu dựa trên một nghiên cứu trường hợp cần thực hiện sứ mệnh và tầm nhìn - Học viện Công nghệ Chin-Min (CMIT) là một trường đại học tư thục nằm ở trung tâm Đài Loan.

Với các nguồn lực và mục tiêu hiện có, 5 chủ đề chiến lược chính được xây dựng gồm: cấu trúc tài chính đầy đủ, phù hợp với kỳ vọng của khách hàng, môi trường học tập tuyệt vời, học tập và quản lý tổ chức, nhân viên chất lượng cao. Để đạt được các chủ đề chiến lược, cần phải đề xuất các mục tiêu chiến lược cụ thể và hiệu quả. Để đánh giá tiến độ và hiệu quả đối với các chủ đề và mục tiêu chiến lược này, các chỉ số đo lường hiệu quả công việc (Performance measure indicator - PMI) phải được thiết lập một cách cụ thể 6 và đơn giản cho phép tất cả các nhân viên hiểu được định hướng của BSC trong việc hoàn thành các nhiệm vụ hàng ngày. Theo Kaplan và Norton (2001) xu hướng cấu trúc BSC của các tổ chức phi lợi nhuận với sứ mệnh là khía cạnh hàng đầu, tiếp theo là khách hàng, quy trình nội bộ, học hỏi và phát triển và cuối cùng là tài chính.

Trong nghiên cứu trường hợp này, sứ mệnh và tầm nhìn được đặt lên hàng đầu, tiếp theo là 4 khía cạnh: tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ, học hỏi và phát triển. Sở dĩ cấu trúc BSC trong nghiên cứu này có sự khác biệt là vì, khi xây dựng BSC, trước tiên, nhà trường phải có sứ mệnh và tầm nhìn phù hợp để thúc đẩy danh tiếng của trường. Sau đó, trong điều kiện tài chính tốt, nhà trường có thể cung cấp các điều kiện mới nhất và nguồn nhân viên xuất sắc trong một quy trình hoạt động trơn tru để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Hầu hết tài trợ của trường tư thục phụ thuộc vào thu nhập từ học phí, cùng với một số khoản trợ cấp tài trợ từ Bộ giáo dục, hơn nữa, trường học trong trường hợp này đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng tài chính, do đó, nó nhấn mạnh đến khía cạnh tài chính trong BSC, khía cạnh khách hàng chỉ quan trọng thứ hai đối với khía cạnh tài chính.

Năm 2009, Ricardo Corrêa Gomes và Joyce Liddle chứng thực sự phù hợp của BSC như là một khung quản lý chiến lược có thể giúp cải thiện hiệu quả hoạt động của các tổ chức thuộc khu vực thứ ba ở Brazil trong nghiên cứu: “The Balanced Scorecard as a Performance Management Tool for Third Sector Organizations: the Case of the Arthur Bernardes Foundation, Brazil”. Địa điểm nghiên cứu là Quỹ Arthur Bernardes (Funarbe), được thành lập vào năm 1979 để hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu của trường Đại học Liên bang Viçosa trong mối quan hệ với các cơ quan tài trợ công cộng và tư nhân. Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu hành động (Bryman, 2004; Lee & Lings, 2008; Mumford, 2001). Dữ liệu được thu thập thông qua các cuộc phỏng vấn nhóm và cá nhân và được phân tích bằng cách sử dụng giải thích và phân tích nội dung (Bryman, 2004; Lee & Lings, 2008).

Những phát hiện thu thập được trong nghiên cứu này chứng thực rằng BSC đã giúp các nhà quản lý đưa ra các kế hoạch khả thi và một tổ chức nên phát 7 triển BSC khác nhau cho mỗi phòng ban thay vì tạo ra một khuôn khổ chung cho toàn bộ tổ chức. Bằng chứng là BSC riêng lẻ cho mỗi bộ phận thúc đẩy hợp tác thay vì cạnh tranh. Funarbe có 8 phòng ban chịu trách nhiệm về các hoạt động hàng ngày của Quỹ, BSC được xây dựng cho mỗi phòng ban trên 4 khía cạnh theo trình tự: tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ, học hỏi và phát triển; và mỗi khía cạnh có các mục tiêu tương ứng, trong đó có các mục tiêu vừa là mục tiêu của phòng ban này vừa là mục tiêu của phòng ban khác. Cùng hợp tác giữa các phòng ban để đạt được các mục tiêu chung đã giúp Quỹ dễ dàng đạt được thặng dư cao hơn với ít nỗ lực hơn, phát triển hình ảnh tốt hơn trong mắt người sử dụng dịch vụ.

Nghiên cứu cũng đưa ra một kết luận khác từ các quan sát thu thập được trong suốt quá trình phân tích liên quan đến bản đồ chiến lược BSC. Kết luận của nghiên cứu là Funarbe không theo đuổi lợi nhuận, nhưng lại đặt khía cạnh tài chính lên hàng đầu trong bản đồ chiến lược, khác với quan điểm của Kaplan và Norton (2001) là các tổ chức phi chính phủ và phi lợi nhuận nên đặt khách hàng lên hàng đầu trong bản đồ chiến lược vì loại hình tổ chức này không tìm kiếm lợi nhuận. Năm 2013, trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, các tác giả Annarita Trotta, Emma Cardamone, Giusy Cavallaro and Marianna Mauro đề xuất khung BSC phù hợp cho bất kỳ bệnh viện giảng dạy nào muốn áp dụng BSC như một hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động trong nghiên cứu: “Applying the Balanced Scorecard approach in teaching hospitals: a literature review and conceptual framework”. Đầu tiên, tác giả xem xét tổng quan tài liệu về mô hình BSC trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, tập trung vào Bệnh viện giảng dạy (Teaching hospitals - THs), tiếp theo tác giả phân tích cách BSC được áp dụng trong các nghiên cứu điển hình và xác định những điểm khác biệt với khung ban đầu được phát triển bởi Kaplan và Norton.

Các nghiên cứu điển hình gồm 4 tổ chức THs khác nhau: Trung tâm y tế Montefiore, Bệnh viện nhi Duke, Viện ung thư Châu Âu (EEO) và Ospedale Ped Pedo Bambino Gesù (OPBG). 8 So với khung ban đầu, kiến trúc của mô hình BSC cho Trung tâm y tế Montefiore đã được sửa đổi một phần. Khía cạnh đổi mới và tăng trưởng và khía cạnh kinh tế và tài chính được bảo toàn, khía cạnh vận hành đã thay thế khía cạnh quy trình nội bộ. Đặc biệt, khía cạnh khách hàng được chuyển lên đầu của mô hình.

Mô hình BSC của 3 tổ chức còn lại đã thay đổi hoàn toàn cả về số lượng và loại khía cạnh. Khía cạnh học hỏi và phát triển đã được thay thế bằng khía cạnh nghiên cứu, giáo dục và giảng dạy trong mô hình BSC của Bệnh viện nhi Duke vì khía cạnh này thể hiện sứ mệnh quan trọng đối với một đơn vị điều trị được đặt trong một trung tâm y tế đại học. EEO là một trung tâm quốc gia và quốc tế về nghiên cứu ung thư. 5 khía cạnh được đưa vào để đo lường hiệu quả của viện gồm: thể chế, nghiên cứu, lâm sàng, giảng dạy, đổi mới và phát triển.

Cuối cùng, OPBG là bệnh viện nhi lớn nhất ở Trung-Nam Ý. Bệnh viện bắt đầu sử dụng BSC khi thực hiện kế hoạch chiến lược cho giai đoạn 2002-2004 và cho đến nay vẫn tiếp tục sử dụng công cụ BSC cho giai đoạn 2009-2011. Khung BSC đã được cải thiện, mở rộng và dần dần thích ứng với các yêu cầu của bệnh viện, bao gồm các khía cạnh: Đổi mới và phát triển công nghệ, kinh tế/tài chính, bệnh nhân, và bệnh viện theo 3 cấp độ (đô thị, quốc gia và quốc tế). Kết quả khung BSC được đề xuất để đánh giá hiệu quả hoạt đông của các THs với 6 khía cạnh: các bên liên quan, tài chính và kinh tế, đổi mới và phát triển, và 3 khía cạnh chăm sóc bệnh nhân, giảng dạy, nghiên cứu được chia từ khía cạnh quy trình nội bộ.

Tiếp theo, năm 2016, một nghiên cứu BSC trong lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là giáo dục công giáo của tác giả Sr. Evangeline Lorenzo Anastacio: “Balanced scorecard model for Paulinian educational institutions”. Mục tiêu chính của nghiên cứu là xây dựng một mô hình BSC phản ánh đúng tầm nhìn và sứ mệnh các trường học công giáo Paulinian được quản lý bởi Hội nữ tu Thánh Phaolô của Chartres (SPCEM) tại Philippines và có thể được áp dụng trong tất cả các trường học công giáo Paulinian trên toàn quốc. Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu Delphi nhằm đạt được sự đồng thuận thông qua quá trình tương tác giữa các nhóm người tham gia.

Nghiên cứu 9 này có sự tham gia của 3 nhóm người: 1) các chuyên gia Delphi, 2) các đại biểu Hội nghị giáo dục SPC 2012, 3) Ủy ban điều hành đại diện cho các bên liên quan từ 39 trường học Paulinian trong nước. Trong vòng đầu tiên, 117 chuyên gia Delphi trả lời câu hỏi mở, dữ liệu định đính này là cơ sở thiết kế câu hỏi định lượng gồm 55 mục cho vòng 2, vòng 2 có 110 chuyên gia Delphi (94%) trả lời khảo sát. Các câu hỏi định lượng vòng 2 cũng được thực hiện cho 234 đại biểu của Hội nghị giáo dục SPC 2012. Các mục có tỷ lệ đồng thuận từ 50% trở lên giữa 2 nhóm được liệt kê trong bảng câu hỏi khảo sát thứ 3 được sử dụng để tập hợp quyết định của Ủy ban điều hành là người chịu trách nhiệm cuối cùng của SPCEM.

Các mục tiêu chiến lược và các chỉ số đánh giá hiệu quả (Key performance indicator - KPI) được chấp nhận bởi Ủy ban điều hành được đưa vào BSC. Các mục tiêu chiến lược và các KPI xuất phát từ sự đồng thuận bằng phương pháp Delphi được phân loại thành 5 loại tương ứng với 5 khía cạnh sau: tâm linh, quy trình nội bộ, người học và cộng đồng bên ngoài, tổ chức học tập, tài chính.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ