MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong quá trình phát triển chung của toàn xã hội, tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa đang làm môi trường sống ngày càng suy thoái. Đặc biệt ở các vùng có nền kinh tế phát triển , các loại chất thải và nước thải từ hoạt động sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, dịch vụ ngày càng gia tăng, trong đó chứa hàm lượng không nhỏ các loại chất độc hại. Do đó, việc thu gom, xử lý chất thải không triệt để gây ra nhiều tác động xấu đến môi trường như: ô nhiễm môi trường không khí, đất đặc biệt là môi trường nước mặt, nước ngầm.
Việc quản lý và xử lý nước thải tại nguồn có ý nghĩa rất quan trọng giúp cải tạo môi trường nước mặt. Hiện nay, nước ta đang trên đà phát triển theo hướng công nghiệp hóa , mở rộng sản xuất công nghiệp, với nhiều dự án đầu tư. Tỉnh Bắc Ninh là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ - khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao và có nhiều ngành nghề kinh tế mũi nhọn với công nghiệp hiện đại, kỹ thuật tiên tiến. Cùng với sự quy hoạch chung của tỉnh, các khu công nghiệp dần dần được hình thành và đang thu hút rất nhiều các doanh nghiệp trong và ngoài nước hoạt động trong nhiều ngành nghề khác nhau đầu tư vào Bắc Ninh để hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thị trường bao bì carton ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc có tốc độ tăng trưởng trung bình 15% trong giai đoạn 2010-2015 và dự báo vẫn giữ tốc độ tăng trưởng trung bình là 15% trong giai đoạn 2015-2020. Đó là thị trường hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Mặt khác, bao bì giấy ngày càng tăng cao do có tính thân thiện môi trường và có xu hướng thay thế các loại bao bì khác. Bên cạnh sự phát triển sản xuất công nghiệp thì việc xử lý nước thải từ nhà máy ở khu công nghiệp là vấn đề hàng đầu được các nhà nghiên cứu môi Luan van 2 trường quan tâm.
Công ty TNHH Trần Thành ( chi nhánh sản xuất bao bì Trần Thành tại KCN Tiên Sơn, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh ) Công ty đã xây dựng HTXL nước thải tập trung với công suất 50m3/ngày đêm đảm bảo nước thải đầu ra trước khi chảy ra hệ thống thu gom nước thải tập trung của KCN Tiên Sơn tại 1 điểm đấu nối. Hệ thống xử lý nước thải của công ty đã được xây dựng và đi vào hoạt động, vậy hiệu quả xử lý, hiệu quả môi trường như thế nào ? Các vấn đề hệ thống gặp phải là gì? Để giúp tìm hiểu hơn về quy trình xử lý nước thải của nhà máy tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả của hệ thống xử lý nước thải tập trung của công ty bao bì carton Trần Thành tại khu công nghiệp Tiên Sơn, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh” nhằm đánh giá một cách khách quan hiệu quả của hệ thống xử lý. Từ đó đề xuất một số biện pháp vận hành hệ thống một cách tốt nhất và nâng cao hiệu quả xử lý nước thải của nhà máy. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá hiệu quả của hệ thống xử lý nước thải tập trung của công ty bao bì Carton Trần Thành tại KCN Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả xử lý nước thải của công ty. Yêu cầu nghiên cứu - Thông tin và số liệu thu được chính xác trung thực, khách quan. - Các mẫu nghiên cứu và phân tích phải đảm bảo tính khoa học và đại diện cho khu vực nghiên cứu. - Đánh giá đầy đủ, chính xác chất lượng nước thải của nhà máy.
- Các kết quả phân tích phải được so sánh với tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường Việt Nam. - Điều tra đánh giá được hiệu quả hệ thống xử lý nước thải của công ty. - Giải pháp kiến nghị đưa ra phải thực tế, có tính khả thi và phù hợp với điều kiện của nhà máy. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: + Giúp bản thân em có cơ hội tiếp cận với cách thức thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học, giúp em vận dụng kiến thức đã học vào thực tế và rèn luyện về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu, tiếp thu và học hỏi những kinh nghiệm từ thực tế.
+ Là cơ hội, điều kiện thuận lợi cho việc tìm hiểu, tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm trong thực tế. Đồng thời năng cao kiến thức thực tế, bổ sung tư liệu học tập, kiến thức, kinh nghiệm sau khi ra trường. - Ý nghĩa trong thực tiễn + Tăng cường trách nhiệm của ban lãnh đạo nhà máy trước hoạt động sản xuất đến môi trường, biết được mặt mạnh, mặt yếu kém, những khó khăn và tồn tại trong công tác quản lý. Từ đó có hoạt động tích cực trong việc xử lý nước thải.
+ Từ kết quả nghiên cứu giúp các cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị trực tiếp là công ty TNHH Trần Thành và các cơ sở sản xuất kinh doanh trong khu công nghiệp thấy được và cần nghiêm túc các biện pháp xử lý nước thải, vận hành đúng quy trình hệ thống xử lý , tăng cường kiểm tra giám sát việc thực hiện. Luan van 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lý luận của đề tài 2. Các khái niệm nước thải Theo TCVN 5980:1995 và ISO 6107/1:1980: Nước thải là nước đã được thải ra sau khi đã sử dụng hoặc được tạo ra trong một quá trình công nghệ và không còn giá trị trực tiếp đối với quá trình đó.
Người ta còn định nghĩa nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử dụng của con người và đã bị thay đổi tính chất ban đầu của chúng.Thông thường nước thải được phân loại theo nguồn gốc phát sinh ra chúng. Đó cũng là cơ sở trong việc lựa chọn các biện pháp giải quyết hoặc công nghệ xử lý. Nước thải là:”Một dạng lỏng hòa tan hay trộn lẫn giữa nước (nước dùng, nước mưa, nước mặt, nước ngầm,…) và chất thải từ sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, du lịch, vui chơi giải trí, giao thông vận tải…”( Dư Ngọc Thành, 2015)[8]. Nguồn gốc và phân loại nước thải Để hiểu và lựa chọn công nghệ xử lý nước thải cần phải phân biệt các loại nước thải khác nhau.Có nhiều cách hiểu về các loại nước thải, chúng ta có thể chia ra làm 3 loại nước thải dựa vào mục đích sử dụng và cách xả thải.
Đó cũng là cơ sở trong việc lựa chọn các biện pháp giải quyết và công nghệ xử lý. Nước thải sinh hoạt Nước thải sinh hoạt là nước được thải bỏ sau khi sử dụng cho các mục đích sinh hoạt của cộng đồng như: tắm, giặt, tẩy rửa, vệ sinh cá nhân,.chúng thường được thải ra từ các căn hộ, nhà ở, cơ quan, trường học, bệnh viện, chợ và các công trình công cộng khác. Lượng nước thải sinh hoạt của khu dân cư phụ thuộc vào dân số, tiêu chuẩn cấp nước và đặc điểm của hệ thống thoát Luan van 5 nước. Nước thải sinh hoạt chứa nhiều chất hữu cơ dễ bi phân hủy sinh học, ngoài ra còn có cả các thành phần vô cơ, vi sinh vật và vi trùng gây bệnh rất nguy hiểm.
Nước thải này thường có nồng độ ô nhiễm cao do chứa các chất độc hại như chất tẩy rửa, thuốc trừ sâu, hóa chất, vi khuẩn, vi sinh vật, Ni tơ, photpho, BOD5, COD….được thải ra trong quá trình sử dụng sinh hoạt. Các chất này rất độc hại, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người đặc biệt là virus, vi khuẩn, giun sán… Thành phần của nước thải sinh hoạt gồm 2 loại: - Nước thải nhiễm bẩn do chất bài tiết của con người từ các phòng vệ sinh - Nước thải nhiễm bẩn do các chất thải sinh hoạt: Cặn bã từ nhà bếp, các chất rửa trôi, vệ sinh sàn nhà. * Nước thải từ khu vệ sinh Nước thải từ khu vệ sinh này có màu, mùi và chứa các thành phần chủ yếu như các chất hữu cơ: phân, nước tiểu, cặn bẩn lơ lửng, tạp chất và các virút, vi sinh vật gây bệnh. Các thành phần ô nhiễm như BOD5, COD, Nitơ, photpho chiếm tỷ lệ lớn gây nên hiện tượng phú dưỡng ảnh hưởng tiêu cực đến các hệ sinh thái nước, hồ, tăng mức độ ô nhiễm không khí, ảnh hưởng đến sinh hoạt của các khu dân cư, dân phố… Nước thải này được thu gom và phân hủy 1 phần trong bể tự hoại đưa nồng độ các chất hữu cơ về ngưỡng để phù hợp với quá trình xử lý sau đó.
Tuy nhiên, để phòng tránh, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng của loại nước thải này đến sinh hoạt nên sử dụng men vi sinh môi trường để cho vào bể tự hoại qua bồn cầu để khử mùi hôi, các chất hữu cơ, để nước trong hơn, ít vi khuẩn và không bị tắc nghẽn bồn cầu. * Nước thải từ chất thải sinh hoạt - Nước thải từ khu vực nấu, rửa ở nhà bếp Nước thải khu vực này thường thải qua quá trình rửa rau, củ quả, vệ sinh bát đĩa, nồi xoong,. cho việc nấu nướng nên thường chứa nhiều dầu mỡ, Luan van 6 lượng rác, cặn cao và 1 phần chất tẩy rửa. Vì vậy cần tách mỡ trước khi đưa vào hệ thống nước thải bằng cách sử dụng phương pháp hút dầu mỡ trong nước thải hoặc bẫy mỡ để mỡ không bám vào thành cống gây tắc nghẽn, khó thoát nước và bốc mùi hôi.
Nước thải từ khu vực sử dụng để tắm giặt Nước thải từ khu vực tắm giặt này hầu như chỉ chứa các thành phần hóa chất từ chất tẩy rửa như xà phòng, bột giặt, sữa tắm… Nước thải này cần có phương pháp xử lý riêng, khác biệt so với các loại nước thải trên. Nước thải công nghiệp Nước thải Theo QCVN 40:2011/BTNMT: Nước thải công nghiệp là nước thải phát sinh từ quá trình công nghệ của cơ sở sản xuất, dịch vụ công nghiệp, từ nhà máy xử lý nước thải tập trung có đầu nối nước thải của cơ sở công nghiệp.Thành phần nước thải sản xuất rất đa dạng, trong một ngành công nghiệp,hàm lượng, thành phần, đặc tính của nước thải cũng có thể thay đổi đáng kể do mức độ hoàn thiện của công nghệ sản xuất hoặc điều kiện môi trường. Căn cứ vào thành phần và khối lượng nước thải mà lựa chọn công nghệ và các kỹ thuật xử lý khác nhau. - Nước thải của khu công nghiệp gồm 2 loại chính: nước thải sinh hoạt từ các khu văn phòng và nước thải sản xuất từ các nhà máy sản xuất trong khu công nghiệp.