CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ DỰ ÁN PHONG ĐIỆN 1 - BÌNH THUẬN I. TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN SẠCH (CDM) 1.1 Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu và Nghị định thư Kyoto 1.1 Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) UNFCCC là công ước quy định một cơ sở khung tổng quát cho những nỗ lực quốc tế nhằm ứng phó với những biến đổi khí hậu trên quy mô toàn cầu. Thực chất đây là một hiệp định được 160 quốc gia ký kết tại hội nghị thượng đỉnh Rio de Janero (tháng 6/1992) và bắt đầu có hiệu lực vào tháng 3 năm 1994. Mục tiêu của Công ước: Mục tiêu tổng quát của UNFCCC được qui định tại Điều 2 là: “Ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển nhằm ngăn ngừa những can thiệp nguy hiểm gây ra bởi các hoạt động của con người cho hệ thống khí hậu”.
Mục tiêu cụ thể được đặt ra trong Điều 4.2 (a) và (b) là “các nước công nghiệp hoá đã được liệt kê trong Phụ lục I của Công ước này sẽ phải có cam kết đặc biệt nhằm giảm thiểu phát thải khí nhà kính quay trở lại bằng mức phát thải năm 1990 và năm 2000”.2 Nghị định thư Kyoto và các cơ chế của Nghị định thư Kyoto Trong các cuộc đàm phán về UNFCCC, các bên tham gia Công ước này đã nhận thức được sự cần thiết phải có những cam kết mạnh mẽ hơn và cụ thể hơn của những nước công nghiệp nhằm giải quyết một cách nghiêm túc hơn nữa về biến đổi khí hậu. Do đó, Nghị định thư Kyoto đã được thông qua tại khoá họp của Hội nghị các bên lần thứ 3 (COP3) ở Kyoto, Nhật Bản vào tháng 12 năm 1997, có hiệu lực thi hành vào ngày 16/02/2005. Nghị định thư Kyoto ấn định các chỉ tiêu giảm phát thải khí nhà kính với những ràng buộc pháp lý cho các nước thuộc Phụ lục I. Tổng lượng cắt giảm phát thải theo cam kết của tất cả các bên thuộc Phụ lục I ít nhất là 5% so với mức phát thải năm Luanvanmaster.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973.149 1990 trong thời kỳ đầu tiên của giai đoạn 2008-2012.
Đối với từng nước hoặc nhóm nước, nghĩa vụ giảm phát thải có khác nhau, cụ thể là Liên minh châu Âu giảm 8%; Mỹ giảm 7% (tuy nhiên Mỹ đã tuyên bố rút khỏi Nghị định thư); Nhật Bản, Hungary, Canada, Balan giảm 6%; Croatia giảm 5%; Newzealand, Liên bang Nga không phải giảm. Riêng Nauy, Áo và Ailen được phép tăng phát thải tương ứng là 1%, 8% và 10%. Mặc dù mức giảm đầu tiên này là rất quan trọng nhưng còn thấp so với yêu cầu ổn định nồng độ GHGs mà Công ước khung đặt ra. Các cơ chế của Nghị định thư Kyoto: Chi phí giảm phát thải GHGs giữa các quốc gia hay khu vực rất khác nhau tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố (tăng hiệu quả sử dụng năng lượng, phát huy tiềm năng về các nguồn năng lượng có khả năng tái tạo.
Vì thế, Nghị định thư Kyoto đưa ra các “cơ chế mềm dẻo” nhằm mục đích cho phép các bên có chỉ tiêu giảm phát thải tạo ra được những cơ hội giảm phát thải GHGs ở nước ngoài rẻ hơn so với ở trong nước. Cơ chế đồng thực hiện (JI) cho phép các nước thuộc Phụ lục I (nước sở tại) thực hiện đầu tư các dự án giảm phát thải hoặc thu hồi khí nhà kính từ khí quyển ở các nước khác cũng thuộc phụ lục I (nước thực hiện) với chi phí thấp hơn so với thực hiện tai nước sở tại. Đổi lại nước sở tại sẽ nhận được các EURs (các đơn vị giảm phát thải) có được từ dự án và sử dụng chúng để thực hiện nghĩa vụ giảm phát thải đã cam kết của mình trong Nghị định thư. Cơ chế phát triển sạch (CDM) giúp cho các nước không thuộc Phụ lục I có được sự phát triển bền vững, đồng thời giúp các nước đầu tư thuộc Phụ lục I có được chứng nhận giảm phát thải GHGs (CERs) tại các nước không thuộc Phụ lục I.
Cơ chế buôn bán quyến phát thải (ET) áp dụng cho các nước thuộc Phụ lục I có thể trao đổi với nhau quyền phát thải dư thừa của mình thông qua hoạt động thương mại.2 Vai trò và lợi ích của CDM đối với sự phát triển bền vững CDM là cơ chế đầu tư phát triển bền vững cho phép các nước công nghiệp hoá thuộc Phụ lục I thực hiện các dự án giảm phát thải tại các nước đang phát triển và đổi lại nhận được chứng chỉ CERs, đạt được sự tuân thủ các cam kết của mình về giảm phát thải định lượng theo Nghị định thư Kyoto, hạn chế sự biến đổi khí hậu Luanvanmaster.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973. Như vậy, thay vì cố gắng thực hiện giảm phát thải ngay tại nước mình bằng các biện pháp như đầu tư, đổi mới, cải tiến công nghệ… với chi phí tốn kém hơn và hiệu quả thường không cao; các nước công nghiệp hoá sẽ tiến hành các dự án CDM đầu tư vào các nước đang phát triển chưa bị ô nhiễm môi trường nặng, trình độ công nghệ chưa cao để giảm phát thải với hiệu quả cao hơn. Bằng cách này, các dự án CDM đem lại lợi ích môi trường và kinh tế cho cả hai phía - phía các nước công nghiệp hoá (các nhà đầu tư dự án CDM) và phía các nước đang phát triển (các nước tiếp nhận dự án CDM). Về mặt kinh tế, nguồn tài trợ từ các dự án CDM chính là nguồn tài chính mới và bổ sung giúp các nước đang phát triển đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội, môi trường và phát triển bền vững, phát triển các nguồn lực, cải thiện sử dụng đất, nâng cao phúc lợi xã hội, xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm hay giảm phụ thuộc vào nhập khẩu nhiên liệu hoá thạch.
Các nước công nghiệp hoá tăng thêm cơ hội đầu tư vào nước chủ nhà. Về môi trường, các nước đang phát triển có cơ hội tiếp nhận các công nghệ thân thiện với môi trường, tiết kiệm năng lượng, giảm ô nhiễm không khí và nước. Ở mức độ toàn cầu, thông qua các dự án giảm phát thải, CDM có thể khuyến khích đầu tư quốc tế, thúc đẩy cung cấp nguồn lực cần thiết cho tăng trưởng kinh tế ở nhiều nơi, nhiều khu vực trên thế giới.3 Tình hình thực hiện CDM trên thế giới Đến tháng 11 năm 2007 đã có 175 nước và đại diện chính phủ các nước tham gia ký kết (chiếm hơn 61.1% lượng khí thải từ các nước thuộc Phụ lục I).Hệ thống buôn bán phát thải của cộng đồng châu Âu (EU ETS) cũng ghi nhận giá trị và số lượng các giao dịch các-bon đã tăng gấp đôi lên mức 50 tỉ USD. Thị trường cácbon toàn cầu đã tăng từ gấp đôi đến gấp ba ở tất cả các lĩnh vực, trừ các dự án ở những nước đang phát triển.
Xu hướng thị trường này có thể là một bước ngoặt đối với các nước đang phát triển đang bắt đầu hưởng lợi từ hoạt động tài chính cácbon và đang tiến đến những nỗ lực giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu bằng các công nghệ năng lượng sạch tiên tiến. Trong năm 2007, đã có 68 quốc gia đang phát triển tham gia CDM nhưng cũng phải đối mặt với sự giảm cầu trong năm 2008, khi các nước mua quyền phát thải nhận ra rằng họ không có đủ thời gian để hoàn thành các cam kết theo NĐT Kyoto với các dự án mới, và nhu cầu từ các thị trường như Mỹ dự kiến sẽ chỉ được kích hoạt sau năm 2012. Quá trình thực hiện các dự án CDM cũng bị giảm sút do sự chậm trễ về thủ tục phê chuẩn CDM.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973.149 Theo báo cáo mới đây của Ngân hàng thế giới, thị trường cácbon toàn cầu đã đạt tới 97 tỉ USD vào năm 2008 cao hơn nhiều so với 64 tỉ USD trong năm 2007 và cao gấp ba lần so với năm 2006. Tính đến đầu năm 2009, số dự án đăng ký CDM thành công đã lên tới 1551 dự án và ước tính phát hành hơn 1, 53 tỉ CERs.1: Số liệu thống kê các dự án CDM và CERs (tháng 3/2009) CERs trung Số lượng CERs dự báo đên bình hàng năm năm 2012 >4200 dự án CDM do các _ > 2,900,000,000 nước đưa ra trong đó: 1551 dự án đã được đăng ký 279,753,244 > 1,530,000,000 47 dự án đang xem xét 9,011,132 > 30,000,000 Nguồn: http://cdm.1: Sự gia tăng về số lượng dự án CDM đã đăng ký, số dự án theo danh mục các nước và số lượng CERs tính theo các dự án 4500 4200 4000 3500 2900 3000 2500 1900 2000 1600 1231 1500 940 685 1000 750 471530 500 0 114100 39 183 0 5/2005 12/1/2005 5/1/2006 5/1/2007 11/2008 Số dự án CDM đã đăng ký Số dự án CDM theo danh mục các nước đưa ra Số CERs theo dự án CDM trong danh mục (Triệu) Nguồn: http://cdm.int Hiện tại, theo số liệu của UNFCCC tháng 3 năm 2009, ngành năng lượng là lĩnh vực thu hút nhiều dự án CDM nhất (chiếm 59.43%), tiếp theo là ngành xử lý và tiêu huỷ chất thải (17.91%) và ngành nông nghiệp (5.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973.2: Số lượng các dự án đã được đăng ký CDM theo lĩnh vực (tính đến tháng 3 năm 2009) Công nghiệp năng lượng 1143 Quản lý chất thải 340 Giảm phát thải nhiên liệu 127 Nông nghiệp 102 Công nghiệp chế tạo 92 Công nghiệp hoá chất 48 Khai khoáng 19 Sản xuất kim loại 3 Trồng rừng 3 Giao thông 2 0 200 400 600 800 1000 1200 1400 Số lượng dự án Nguồn: http://cdm.int Trong đó, Châu Á Thái Bình Dương hiện đang là khu vực sôi động nhất về các dự án CDM.
Tính đến đầu năm 2009, Ấn Độ là nơi có nhiều dự án CDM nhất, còn Trung Quốc là quốc gia đứng đầu về nhận được CERs. Các nước Anh, Thuỵ Sĩ và Nhật là những nước phát triển đầu tư nhiều nhất vào các dự án CDM (Anh: 29.3: Các dự án CDM đã đăng ký theo nước chủ nhà tính đến tháng 3/2009 (tổng số là 1462 dự án) 18.29% Chilê Các nước khác Nguồn: http://cdm.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973.